PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY – KINH TỤNG – Phần II

THERAVĀDA
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

KINH TỤNG

Dịch giả: TỊNH TÂM (Hòa thượng HỘ TÔNG)

Ấn bản 2005

—o0o—

[20]

KINH TỤNG CẦU AN

*

BÀI THỈNH CHƯ THIÊN

Sagge kāme ca rūpe girisikharataṭe cantalikkhe vimāne,
Dīpe raṭṭhe ca gāme taruvanagahane gehavatthumhi khette,
Bhummā cāyantu devā jalathalavisame yakkhagandhabbanāgā,
Tiṭṭhantā santikeyaṃ munivaravacanaṃ sādhavo me suṇantu.

Xin thỉnh Chư Thiên ngự trên cõi Trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đảnh núi, núi không liền, hoặc nơi hư không, ngự trên cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận, ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vuờn, Chư Dạ-Xoa, Càn-Thác-Bà, cùng Long Vương dưới nước trên bờ hoặc nơi không bằng phẳng gần đây, xin thỉnh hội họp lại đây. Lời nào là kim ngôn cao thượng của đức Thích-Ca Mâu-Ni mà chúng tôi tụng đây, xin các bậc Hiền triết nên nghe lời ấy.

Dhammassavanakālo ayambhadantā.

Xin các Ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp-Bảo.

Dhammassavanakālo ayambhadantā.

Xin các Ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp-Bảo.

Dhammassavanakālo ayambhadantā.

Xin các Ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp-Bảo.

-ooOoo-

[21]

NAMASSAKĀRA
PHÉP LỄ BÁI

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. (3 lần)

Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ Đức BHAGAVĀ [1] đó, Ngài là bậc ARAHAṂ [2] cao thượng, được chứng quả Chánh-Biến-Tri, do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy. (3 lần)

-ooOoo-

[22]

SARAṆAGAMANA
(TAM QUY)

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Phật.

Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Pháp.

Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Tăng.

Dutiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Phật, lần thứ nhì.

Dutiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Pháp, lần thứ nhì.

Dutiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Tăng, lần thứ nhì.

Tatiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Phật, lần thứ ba.

Tatiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Pháp, lần thứ ba.

Tatiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

(Tôi đem hết lòng thành kính) xin Quy y Tăng, lần thứ ba.

-ooOoo-

[23]

SAMBUDDHE
(LỄ BÁI CHƯ PHẬT)

Sambuddhe aṭṭhavīsañca,
Dvādasañca sahassake,
Pañcasatasahassāni,
Namāmi sirasā ahaṃ.

Tôi đem hết lòng thành kính, làm lễ 28 Vị Chánh-Biến-Tri, 12 ngàn Vị Chánh-Biến-Tri và 500 ngàn Vị Chánh-Biến-Tri.

Tesaṃ dhammañca saṅghañca,
Ādarena namāmihaṃ.

Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ Pháp-Bảo và Tăng-Bảo, của các vị Chánh-Biến-Tri ấy.

Namakārānubhāvena,
Hantvā sabbe upaddave,
Anekā antarāyāpi,
Vinassantu asesato.

Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực các bậc Chánh-Biến-Tri, mà những điều rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.

Sambuddhe pañca paññāsañca,
Catuvīsatisahassake,
Dasasatasahassāni,
Namāmi sirasā ahaṃ.

Tôi đem hết lòng thành kính, làm lễ 55 Vị Chánh-Biến-Tri, 24 ngàn Vị Chánh-Biến-Tri và 1 triệu Vị Chánh-Biến-Tri.

Tesaṃ dhammañca saṅghañca,
Ādarena namāmihaṃ.

Tôi đem hết lòng thành kính, làm lễ Pháp-Bảo và Tăng-Bảo, của các Vị Chánh-Biến-Tri ấy.

Namakārānubhāvena,
Hantvā sabbe upaddave,
Anekā antarāyāpi,
Vinassantu asesato.

Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực các bậc Chánh-Biến-Tri, mà những điều rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.

Sambuddhe navuttarasate,
Aṭṭhacattāḷīsasahassake,
Vīsatisatasahassāni,
Namāmi sirasā ahaṃ.

Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ 109 Vị Chánh-Biến-Tri, 48 ngàn Vị Chánh-Biến-Tri và 2 triệu Vị Chánh-Biến-Tri.

Tesaṃ dhammañca saṅghañca,
Ādarena namāmihaṃ,

Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ Pháp-Bảo và Tăng-Bảo, của các vị Chánh-Biến-Tri ấy.

Namakārānubhāvena,
Hantvā sabbe upaddave,
Anekā antarāyāpi,
Vinassantu asesato.

Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực các bậc Chánh-Biến-Tri, mà những điều rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.

-ooOoo-

[24]

MAṄGALASUTTĀRAMBHO
TỤNG BỐ CÁO HẠNH PHÚC KINH

Ye santā santacittā tisaraṇasaraṇā ettha lokantare vā.
Bhummā bhummā ca devā guṇagaṇagahaṇabyāvaṭā sabbakālaṃ.

Xin thỉnh tất cả Chư Thiên ngự trong hư không thế giới, hoặc ngoài hư không thế giới nầy, là bậc đã có lòng an tịnh và đã quy y Tam-Bảo, là bậc năng chuyên cần việc hạnh phúc.

Ete āyantu devā varakanakamaye merurāje vasanto.

Xin thỉnh tất cả Chư Thiên, ngự trên Tu-Di Sơn Vương, tinh anh bằng vàng ròng cao thượng.

Santo santo sahetuṃ munivaravacanaṃ sotumaggaṃ samaggaṃ.

Xin thỉnh tất cả Chư Thiên là bậc Tịnh giả đồng tụ hội nơi đây, đặng nghe lời vàng của Đức Thích-Ca Mâu-Ni, là Pháp Vô thượng làm cho phát sanh điều hoan lạc.

Sabbesu cakkavāḷesu,
Yakkhā devā ca brahmuno,
Yaṃ amhehi kataṃ puññaṃ,
Sabbasampattisādhakaṃ.

Sự phước báo mà chúng tôi đã làm; có thể độ thành tựu các thứ quả, cầu xin Dạ-Xoa, Chư Thiên cùng Phạm Thiên, trong cả thế giới Ta-Bà đều hoan hỉ thọ lãnh phước ấy.

Sabbe taṃ anumoditvā,
Samaggā sāsane ratā,
Pamādarahitā hontu,
Ārakkhāsu visesato.

Tất cả Dạ-Xoa, Chư Thiên cùng Phạm Thiên khi đã thọ lãnh phước ấy, xin đồng tâm hoan hỉ trong Phật Pháp. Xin dứt lòng dễ duôi và tùy phương tiện quý báu để hộ trì Phật Pháp.

Sāsanassa ca lokassa,
Vuḍḍhī bhavatu sabbadā,
Sāsanaṃpi ca lokañca,
Devā rakkhantu sabbadā.

Cầu xin Phật Pháp được thạnh đạt và chúng sanh hằng được tấn hóa. Cầu xin tất cả Chư Thiên hộ trì Phật Pháp và tiếp độ chúng sanh.

Saddhiṃ hontu sukhī sabbe,
Parivārehi attano,
Anīghā sumanā hontu,
Saha sabbehi ñātibhi.

Cầu xin cho tất cả chúng sanh đều được yên vui, được vô khổ cụ, là người có thiện tâm luôn cả thân bằng cùng quyến thuộc.

Yañca dvādasa vassāni,
Cintayiṃsu sadevakā,
Cirassaṃ cintayantāpi,
Neva jāniṃsu maṅgalaṃ,
Cakkavāḷasahassesu,
Dasasu yena tattakaṃ,
Kālaṃ kolāhalaṃ jātaṃ,
Yāva brahmanivesanā.

Tất cả nhơn loại cùng Chư Thiên trong mười ngàn thế giới Ta-Bà, hằng mong cầu và cố gắng tìm xét trong 12 năm, những điều hạnh phúc vẫn chưa tìm thấy, xôn xao thấu đến cõi trời Phạm Thiên trong khi ấy.

Yaṃ lokanātho desesi,
Sabbapāpavināsanaṃ,
Yaṃ sutvā sabbadukkhehi,
Muñcantāsaṅkhiyā narā,
Evamādiguṇūpetaṃ,
Maṅgalantambhaṇāma he.

Đức Phật có giảng giải những sự hạnh phúc làm cho các tội lỗi đều phải tiêu diệt, chúng sanh nhiều không xiết kể, đã nghe và được dứt khỏi các sự thống khổ.

-ooOoo-

[25]

MAṄGALASUTTA
HẠNH PHÚC KINH

Evamme sutaṃ:

Tôi (tên là A-NAN-ĐA) được nghe lại như vầy:

Ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme.

Một thuở nọ Đức Thế Tôn ngự tại Kỳ-Viên Tịnh Xá của trưởng giả Cấp-Cô-Độc gần thành Xá-Vệ (Sāvatthi).

Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ Jetavanaṃ obhāsetvā yena Bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi.

Khi ấy, có vị Trời chiếu hào-quang xinh đẹp, làm cho trọn cả Kỳ-Viên sáng ngời rực-rỡ, vị Trời ấy đến nơi Phật ngự, đảnh lễ đức Thế Tôn xong rồi, đứng tại chỗ nên đứng.

Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā Bhagavantaṃ gāthāya ajjabhāsi:

Khi đã đứng yên, vị Trời ấy bèn bạch với đức Thế Tôn, bằng lời kệ rằng:

Bahū devā manussā ca,
Maṅgalāni acintayuṃ,
Ākaṅkhamānā soṭṭhānaṃ,
Brūhi maṅgalamuttamaṃ.

Tất cả Chư Thiên cùng nhơn loại, đều cầu mong được những hạnh phúc và cố tìm xét những điều hạnh phúc. Bạch đức Thế Tôn, xin Ngài mở lòng Bác ái, giảng giải về những hạnh phúc cao thượng. Đức Thế Tôn tùy lời hỏi mà giảng rằng:

Asevanā ca bālānaṃ,
Paṇḍitānañca sevanā,
Pūjā ca pūjanīyānaṃ,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: tư cách không xu hướng theo kẻ dữ.
Hai: tư cách thân-cận các bậc Trí tuệ.
Ba: tư cách cúng dường các bậc nên cúng dường.
Cả ba điều ấy là hạnh phúc cao-thượng.

Paṭirūpadesavāso ca,
Pubbe ca katapuññatā,
Attasammāpaṇidhi ca,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: tư cách ở trong nước nên ở.
Hai: tư cách của người đã làm được việc lành để dành khi trước.
Ba: nết hạnh giữ mình theo lẽ chánh.
Cả ba điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Bāhusaccañca sippañca,
Vinayo ca susikkhito,
Subhāsitā ca yā vācā,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: nết hạnh của người được nghe nhiều học rộng.
Hai: sự suốt thông phận sự của người xuất gia và tại gia.
Ba: Điều học mà người đã thọ trì được chín-chắn.
Bốn: lời mà người nói ra được ngay thật,
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Mātāpitu upaṭṭhānaṃ,
Puttadārassa saṅgaho,
Anākulā ca kammatā,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: nết hạnh phụng sự Mẹ.
Hai: nết hạnh phụng sự Cha.
Ba: sự tiếp độ Vợ Con.
Bốn: những nghề chẳng lẫn lộn nghiệp dữ.
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Dānañca dhammacariyā ca,
Ñātakānañca saṅgaho,
Anavajjāni kammāni,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: nết hạnh bố thí.
Hai: nết hạnh ở theo Phật Pháp.
Ba: sự tiếp độ quyến thuộc.
Bốn: những nghề vô tội.
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Āratī viratī pāpā,
Majjapānā ca saññamo,
Appamādo ca dhammesu,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: nết hạnh ghê sợ và tránh xa tội lỗi.
Hai: sự thu thúc để tránh khỏi sự uống rượu.
Ba: sự không dể duôi Phật Pháp.
Cả ba điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Gāravo ca nivāto ca,
Santuṭṭhī ca kataññutā,
Kālena dhammassavanaṃ,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: sự tôn kính bậc nên tôn kính.
Hai: nết hạnh khiêm nhượng.
Ba: tri túc đến của đã có.
Bốn: nết hạnh biết đền ơn người.
Năm: nết hạnh tùy thời nghe Pháp.
Cả năm điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Khantī ca sovacassatā,
Samaṇānañca dassanaṃ,
Kālena dhammasākacchā,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: sự nhịn nhục.
Hai: nết hạnh người dễ dạy.
Ba: nết hạnh được thấy được gặp các bậc Sa-Môn.
Bốn: nết hạnh biện luận về Phật Pháp.
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Tapo ca brahmacariyañca,
Ariyasaccāna dassanaṃ,
Nibbānasacchikiriyā ca,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: sự cố gắng đoạn tuyệt điều ác.
Hai: nết hạnh hành theo Pháp cao thượng.
Ba: nết hạnh thấy các Pháp Diệu-đế.
Bốn: nết hạnh làm cho thấu rõ Niết-bàn.
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Phuṭṭhassa lokadhammehi,
Cittaṃ yassa na kampati,
Asokaṃ virajaṃ khemaṃ,
Etammaṅgalamuttamaṃ.

Một: tâm không xao động vì Pháp thế gian.
Hai: không có sự uất ức.
Ba: dứt khỏi tình dục.
Bốn: lòng tự tại.
Cả bốn điều ấy là hạnh phúc cao thượng.

Etādisāni katvāna,
Sabbatthamaparājitā,
Sabbattha sotthiṃ gacchanti,
Tantesaṃ maṅgalamuttaman’ti.

Tất cả Chư Thiên và nhơn loại, nếu được thật hành theo những điều hạnh phúc như thế, là người thắng quá trong mọi nơi, thì hằng được hạnh phúc trong mọi nơi. Chư Thiên nầy! Các người nên tin rằng cả 38 điều hạnh phúc ấy, là hạnh phúc cao thượng.

-ooOoo-

[26]

RATANASUTTĀRAMBHO
TỤNG BỐ CÁO KINH TAM-BẢO

Paṇidhānato paṭṭhāya Tathāgatassa
dasa pāramiyo dasa upapāramiyo
dasa paramatthapāramiyo
pañca mahāpariccāge tisso cariyā
pacchimabbhave gabbhāvakkantiṃ jātiṃ
abhinikkhamanaṃ padhānacariyaṃ
bodhipallaṅke māravijayaṃ.

Chúng ta nên đem lòng từ thiện, (đối với tất cả chúng sanh) như Đại đức ĀNANDA, đã suy tưởng đều đủ các công đức của Phật, từ khi mới phát nguyện thành bậc Chánh-đẳng Chánh-giác, là tu 10 phép Ba-rá-mi (PĀRAMĪ) [3], 10 phép Ú- bá-ba-rá-mi (UPAPĀRAMĪ) [4], 10 phép Bá-rá-mát thá-ba-rá-mi (PARAMATTHAPĀRAMĪ) [5] , 5 phép đại thí [6], 3 phép hành [7].

Sabbaññutaññāṇappaṭivedhaṃ
nava lokuttaradhammeti sabbepime
buddhaguṇe āvajjitvā Vesāliyā tīsu
pākārantaresu tiyāmarattiṃ parittaṃ
karonto āyasmā Ānandatthero viya
kāruññacittaṃ upaṭṭhapetvā.

Tư cách giáng sanh vào lòng mẹ trong kiếp chót.
Tư cách ra đời.
Tư cách xuất gia.
Tư cách tu khổ hạnh.
Tư cách cảm thắng Ma Vương.
Tư cách chứng quả Chánh-Biến-Tri trên Bồ-đoàn.
Chín Phép Thánh.
Suy tưởng xong rồi; Đại đức ĀNANDA tụng kinh PARITTA [8] cả đêm, trọn đủ 3 canh, tại trong 3 vòng thành VESĀLĪ .

Koṭisatasahassesu,
Cakkavāḷesu devatā,
Yassānampaṭiggaṇhanti,
Yañca Vesāliyaṃ pure,
Rogā manussadubbhikkha-
Sambhūtantividhaṃ bhayaṃ,
Khippamantaradhāpesi,
Parittantambhaṇāma he.

Tất cả Chư Thiên trong mười muôn triệu thế giới Ta-Bà, đều được thọ lãnh oai lực kinh PARITTA. Kinh PARITTA đã làm cho 3 điều kinh sợ phát sanh, là: Bịnh tật, Phi nhơn và sự Đói khát trong thành VESĀLĪ được mau tiêu diệt. Chư Thiên nầy, nay chúng tôi tụng kinh PARITTA ấy.

-ooOoo-

[27]

RATANASUTTA
KINH TAM-BẢO

Yānīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāniva antalikkhe.

Hạng Bhūta là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta là Chư Thiên ngự trên hư không thế giới, mà đến hội họp nơi đây.

Sabbeva bhūtā sumanā bhavantu,
Athopi sakkacca suṇantu bhāsitaṃ.

Cầu xin tất cả hạng Bhūta ấy, mở lòng từ thiện, và đem lòng thành kính mà nghe Phật ngôn.

Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe,
Mettaṃ karotha mānusiyā pajāya,
Divā ca ratto ca haranti ye baliṃ.

Tất cả chư bhūta được nghe kinh PARITTA rồi, nên mở lòng Bác ái đối với chúng sanh, thuộc về nhơn loại, là những người hằng đem của bố thí đêm ngày không dứt.

Tasmā hi ne rakkhatha apamattā,
Yaṃkiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā,
Saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ,
Na no samaṃ atthi Tathāgatena.

Vì đó, các Ngài chẳng nên lãnh đạm, cầu xin hộ trì những người ấy. Tài sản trong thế gian nầy, hoặc trong thế giới khác hoặc trân châu quý trọng trên Thiên thượng. Cả tài sản và trân châu ấy, cũng chẳng sánh bằng Đức Như Lai.

Idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Phật nầy như trân châu quý báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Khayaṃ virāgaṃ amataṃ paṇītaṃ,
Yadajjagā Sakyamunī samāhito.

Đức Giáo-chủ SAKYAMUNI là bậc thanh tịnh, đại ngộ các pháp diệt trừ phiền não, dứt khỏi tình dục, là Pháp bất diệt, là Pháp cao thượng.

Na tena dhammena samatthi kiñci.

Chẳng có chi sánh bằng Pháp ấy.

Idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ.

Pháp-Bảo nầy như trân châu quý báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Yaṃ Buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ.

Đức Phật cao thượng hằng khen ngợi Pháp Thiền định (SAMĀDHI) là Pháp trong sạch.

Samādhimānantarikaññamāhu.

Các bậc Trí tuệ, đã giảng giải về Pháp Chánh Định là Pháp sanh quả theo thứ tự.

Samādhinā tena samo na vijjati.

Thiền định khác chẳng thể sánh bằng.

Idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ.

Pháp-Bảo nầy như trân châu quý báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Ye puggalā aṭṭhasataṃ pasatthā,
Cattāri etāni yugāni honti,
Te dakkhiṇeyyā Sugatassa sāvakā.

Những hạng tu hành có 8 bậc, mà các Thiện trí thức đã ngợi khen, các bậc ấy đều là Thinh Văn, đệ tử của Đức SUGATO [9], các Ngài đáng thọ lãnh những vật thí, của người tin lý nhân quả đem đến dâng cúng.

Etesu dinnāni mahapphalāni.

Những sự bố thí đến các bậc (DAKKHIṆEYYA PUGGALĀ) [10], là việc bố thí được kết quả rất nhiều hạnh phúc.

Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Ye suppayuttā manasā daḷhena,
Nikkāmino Gotamasāsanamhi.

Các bậc Thánh nhơn trong giáo Pháp của Đức Chánh-Biến-Tri hiệu GOTAMA [11], đã hành theo lẽ chánh rồi có lòng bền chắc, chẳng còn ái dục.

Te pattipattā amataṃ vigayha,
Laddhā mudhā nibbutiṃ bhuñjamānā.

Các bậc Thánh nhơn ấy đã chứng quả A-LA -HÁN, đã nhập Niết-bàn, đã tắt lửa phiền não, và đã hưởng đạo-quả rồi.

Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Yathindakhìlo paỉhaviư sito siyà,
Catubbhi vātebhi asampakampiyo.

Cột cừ đã đóng cứng dưới đất, dầu gió 4 phương cũng không lay động, thế nào.

Tathūpamaṃ sappurisaṃ vadāmi,
Yo ariyasaccāni avecca passati.

Người hay suy xét thấy các Pháp Diệu-Đế, Như Lai gọi người ấy là bậc Thiện Trí Thức, hạng không tham nhiễm các Pháp thế gian, ví như cột cừ kia vậy.

Idampi sanghe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Ye ariyasaccāni vibhāvayanti.

Các bậc Thánh nhơn thấy rõ các Pháp Diệu-Đế.

Gambhīrapaññena sudesitāni,
Kiñcāpi te honti bhusappamattā,
Na te bhavaṃ aṭṭhamamādiyanti.

Mà Đức Như Lai có Trí tuệ thậm-thâm đã giảng dạy đứng đắn. Các bậc Thánh nhơn ấy dầu có dể duôi, cũng chẳng thọ sanh đến kiếp thứ 8, là chẳng luân hồi quá 7 kiếp.

Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Sahāvassa dassanasampadāya,
Tayassu dhammā jahitā bhavanti,
Sakkāyadiṭṭhi vicikicchitañca,
Sīlabbataṃ vāpi yadatthi kiñci.

Bậc được chứng đạo-quả Tu-Đà-Hườn, thì đã dứt khỏi 3 phép chướng ngại thường có là Thân Kiến, Hoài Nghi và Giới Cấm Thủ.

Catūhapāyehi ca vippamutto,
Cha cābhiṭhānāni abhabbo kātuṃ

Bậc Tu-Đà-Hườn đã thoát khỏi cả 4 đường dữ, không còn phạm 6 điều ác, là 5 tội đại nghịch, và cách xu hướng theo ngoại-đạo.

Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Kiñcāpi so kammaṃ karoti pāpakaṃ,
Kāyena vācāyuda cetasā vā,
Abhabbo so tassa paṭicchadāya.

Nếu bậc Tu-Đà-Hườn vô tâm phạm điều tội lỗi do thân, khẩu, ý, các Ngài cũng chẳng giấu giếm.

Abhabbatā diṭṭhapadassa vuttā.

Nết hạnh của bậc đã thấy đạo quả Niết-bàn, bậc không có thể giấu kín nghiệp dữ, mà Đức Phật đã giảng dạy rồi.

Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Vanappagumbe yathā phussitagge,
Gimhānamāse paṭhamasmiṃ gimhe,
Tathūpamaṃ dhammavaraṃ adesayi,
Nibbānagāmiṃ paramaṃ hitāya.

Pháp cao thượng mà đức Chánh-Biến-Tri đã giảng giải, là Pháp có thể tiếp dẫn chúng sanh đến Niết-bàn, cho được sự lợi ích cao thượng. Pháp ấy ví như cây trong rừng, sanh chồi trong đầu mùa hạn.

Idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Phật nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Varo varaññū varado varāharo.

Đức Chánh-Biến-Tri là bậc cao thượng, Ngài suốt thông Pháp cao thượng, Ngài thí Pháp cao thượng, Ngài đem đến Pháp cao thượng.

Anuttaro dhammavaraṃ adesayi.

Ngài là bậc vô thượng, đã diễn thuyết các pháp cao thượng.

Idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ.

Đức Phật nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Khīṇaṃ purāṇaṃ navaṃ natthi sambhavaṃ.

Nghiệp cũ của các bậc Thánh nhơn đã dứt hẳn rồi, nghiệp mới cũng chẳng phát sanh.

Virattacittāyatike bhavasmiṃ,
Te khīṇabījā avirūḷhichandā.

Các bậc Thánh nhơn nào đã chán nãn trong việc thoát sanh. Hạt giống đã đoạn tận, lòng dục không tăng trưởng.

Nibbanti dhīrā yathāyampadīpo.

Là bậc có Trí tuệ thường được viên tịch cũng như ngọn đèn tắt vậy.

Idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ

Đức Tăng nầy như trân châu quí báu cao thượng.

Etena saccena suvatthi hotu.

Tôi xin thành thật, cầu được phát sanh thạnh lợi.

Yānīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāniva antalikkhe,
Tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ,
Buddhaṃ namassāma suvatthi hotu.

Hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên hư không, mà đến hội họp nơi đây, xin đồng cùng chúng tôi làm lễ Chư Phật, là các đấng Giáo Chủ đã được chứng quả giống nhau, mà Chư Thiên cùng nhơn loại thường hay cúng dường, cầu xin được phát sanh thạnh lợi.

Yanīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāniva antalikkhe,
Tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ,
Dhammaṃ namassāma suvatthi hotu.

Hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên hư không, mà đến hội họp nơi đây, xin đồng cùng chúng tôi làm lễ các Pháp đã có giống nhau, mà Chư Thiên cùng nhơn loại thường hay cúng dường, cầu xin được phát sanh thạnh lợi.

Yānīdha bhūtāni sāmāgatāni,
Bhummāni vā yāni va antalikkhe,
Tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ,
Saṅghaṃ namassāma suvatthi hotu.

Hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên địa cầu, hoặc hạng Bhūta nào là Chư Thiên ngự trên hư không, mà đến hội họp nơi đây, xin đồng cùng chúng tôi làm lễ Chư Tăng đã có giống nhau, mà Chư Thiên cùng nhơn loại thường hay cúng dường, cầu xin được phát sanh thạnh lợi.

-ooOoo-

[28]

KARAṆĪYAMETTASUTTĀRAMBHO
BỐ CÁO BÁC-ÁI KINH

Yassānubhāvato yakkhā,
Neva dassenti bhiṃsanaṃ,
Yamhi cevānuyuñjanto,
Rattindivamatandito,
Sukhaṃ supati sutto ca,
Pāpaṃ kiñci na passati,
Evamādiguṇūpetaṃ,
Parittantambhaṇāma he.

Do nhờ oai lực Kinh PARITTA, mà các hạng Dạ-Xoa không dám hiện hình đáng sợ, lại nữa những ai ngày và đêm không lười biếng, siêng năng đọc tụng kinh PARITTA, đương khi ngủ hoặc đã ngủ cũng đều được an vui, không nằm mộng thấy sự xấu xa chút ít. Nay ta tụng kinh PARITTA có những oai đức, nhứt là như vầy:

-ooOoo-

[29]

KARAṆĪYAMETTASUTTA
BÁC-ÁI KINH

Karaṇīyamatthakusalena,
Yantaṃ santaṃ padaṃ abhisamecca,
Sakko ujū ca suhujū ca,
Suvaco cassa mudu anatimānī.

Do sự nào mà bậc Thánh nhơn được Giác Ngộ các Pháp yên lặng là Niết-bàn, người rõ biết trong việc hữu ích nên hành sự ấy, người ấy là bậc dõng cảm thân khẩu ý chân chánh và trong sạch, là người dễ dạy, có tánh nết nhu thuận, không ngã mạn thái quá.

Santussako ca subharo ca,
Appakicco ca sallahukavutti,
Santindriyo ca nipako ca,
Appagabbho kulesu ananugiddho.

Là người tri túc dễ nuôi, là người ít bận việc, và thân tâm nhẹ nhàng, là người có lục căn thanh tịnh, có nhiều Trí tuệ, là người có liêm sĩ, không quyến luyến theo thân bằng quyến thuộc.

Na ca khuddaṃ samācare kiñci,
Yena viññū pare upavadeyyuṃ,
Sukhino vā khemino hontu,
Sabbe sattā bhavantu sukhitattā.

Các bậc Thiện Trí Thức hằng chê bai các chúng sanh tạo những nghiệp không nên làm, là nghiệp xấu xa hèn hạ dầu là nhỏ nhen chút ít mà nên rải lòng Bác ái đến các hạng chúng sanh như vầy:

Ye keci pāṇabhūtatthi,
Tasā vā thāvarā vā anavasesā,
Dīghā vā ye mahantā vā,
Majjhimā rassakā aṇukathūlā.

Cầu cho tất cả chúng sanh đều được an vui thong thả, thân tâm được nhiều hạnh phúc, tất cả chúng sanh không dư sót, dầu là chúng sanh có sự kinh sợ, là còn lòng ham muốn, hoặc là bậc Hiền triết đã dứt lòng ham muốn.

Diṭṭhā vā yeva adiṭṭhā,
Ye ca dūre vasanti avidūre,
Bhūtā vā sambhavesī vā,
Sabbe sattā bhavantu sukhitattā.

Chúng sanh nào có thân hình dài hoặc lớn, có thân hình bậc trung hoặc vắn, có thân hình gầy hoặc béo, chúng sanh mà ta đã thấy hoặc không thấy được, chúng sanh ngụ nơi xa hoặc gần, đã sanh ra rồi hoặc còn đang tìm nơi thọ sanh.

Na paro paraṃ nikubbetha,
Nātimaññetha katthaci naṃ kiñci,
Byārosanā paṭighasaññā,
Nāññamaññassa dukkhamiccheyya.

Chúng sanh chẳng nên dọa hẩm làm khổ chúng sanh khác, chẳng nên khinh bỉ chút ít kẻ khác trong nơi nào cả, chẳng nên muốn làm khổ lẫn nhau vì sự nóng giận hoặc bất bình là sự bực tức trong tâm.

Mātā yathā niyaṃ puttaṃ,
Āyusā ekaputtamanurakkhe,
Evampi sabbabhūtesu,
Mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ.

Người mẹ thà liều chết để bảo dưỡng con đẻ là con một, là dám bỏ sanh mạng trong sự bảo dưỡng con thế nào, Người nên niệm lòng Bác ái vô lượng vô biên để rải đến tất cả chúng sanh cũng như thế ấy.

Mettañca sabbalokasmiṃ,
Mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ,
Uddhaṃ adho ca tiriyañca,
Asambādhaṃ averaṃ asapattaṃ

Người nên niệm tâm Bác ái vô lượng vô biên, là Pháp không nóng giận, không bất bình, không thù oán, không bạn nghịch, để rải trong tất cả thế giới, là rải bên trên, bên dưới, bên ngang và khoảng giữa.

Tiṭṭhañcaraṃ nisinno vā,
Sayāno vā yāvatassa vigatamiddho,
Etaṃ satiṃ adhiṭṭheyya,
Brahmametaṃ vihāraṃ idhamāhu.

Người niệm lòng Bác ái ấy dầu đứng, đi, ngồi hoặc nằm, là người đã dứt bỏ sự hôn-trầm, là người chẳng còn ngủ mê, đến đâu nên thành tâm thường niệm lòng Bác ái đến đó, các bậc trí thức gọi những tư cách ấy, là Pháp vô lượng tâm trong Phật Pháp.

Diṭṭhiñca anupagamma,
Sīlavā dassanena sampanno,
Kāmesu vineyya gedhaṃ,
Na hi jātu gabbhaseyyaṃ punaretīti.

Người có vô lượng tâm Bác ái, không tà kiến, là người có Trì Giới, có chánh kiến, là người đắc Tu-Đà-Hườn đạo, đã dứt bỏ sự say mê theo ngũ trần rồi.

-ooOoo-

[30]

PAKIṆṆAKAPARITTA
(KINH TỤNG SAU CÙNG CÁC KINH CẦU AN)

ABHAYAPARITTAGĀTHĀ

Yandunnimittaṃ avamaṅgalañca,
Yo cāmanāpo sakuṇassa saddo,
Pāpaggaho dussupinaṃ akantaṃ,
Buddhānubhāvena vināsamentu.

Nhờ Uy linh của Đức Phật, xin cho những triệu bất hảo, điều bất lợi, tiếng điểu thú không vừa lòng, nghịch cảnh và mộng mị bất mãn thảy đều tiêu tan.

Yandunnimittaṃ avamaṅgalañca,
Yo cāmanāpo sakuṇassa saddo,
Pāpaggaho dussupinaṃ akantaṃ,
Dhammānubhāvena vināsamentu.

Nhờ Uy linh của Đức Pháp, xin cho những triệu bất hảo, điều bất lợi, tiếng điểu thú không vừa lòng, nghịch cảnh và mộng mị bất mãn thảy đều tiêu tan.

Yan dunnimittaṃ avamaṅgalañca,
Yo cāmanāpo sakunassa saddo,
Pāpaggaho dussupinaṃ akantaṃ,
Saṅghānubhāvena vināsamentu.

Nhờ Uy linh của Đức Tăng, xin cho những triệu bất hảo, điều bất lợi, tiếng điểu thú không vừa lòng, nghịch cảnh và mộng mị bất mãn thảy đều tiêu tan.

Dukkhappattā ca niddukkhā,
Bhayappattā ca nibbhayā,
Sokappattā ca nissokā,
Hontu sabbepi pāṇino.

Tất cả chúng sanh đến khổ rồi, xin cho dứt khổ, đến điều lo sợ rồi, xin cho dứt lo sợ, đến cơn phiền muộn rồi, xin cho dứt phiền muộn.

Ettāvatā ca amhehi,
Sambhataṃ puññasampadaṃ,
Sabbe devānumodantu,
Sabbasampattisiddhiyā.

Mong cho Chư Thiên hoan hỷ quả phước của chúng tôi đã tạo, cho được thành tựu những hạnh phúc.

Dānaṃ dadantu saddhāya,
Sīlaṃ rakkhantu sabbadā,
Bhāvanābhiratā hontu,
Gacchantu devatāgatā.

Chúng nhân hãy bố thí, hãy trì giới hãy là người vui thích Tham Thiền (Niệm Phật) thường thường, Chư Thiên đã đến rồi, xin thỉnh các Ngài hồi quy.

Sabbe buddhā balappattā,
Paccekānañca yambalaṃ,
Arahantānañca tejena,
Rakkhaṃ bandhāmi sabbaso.

Tất cả đức Chánh-Biến-Tri đều duy trì quyền lực, Chư Độc Giác cũng có quyền lực, các bậc A LA HÁN cũng có quyền lực; Tôi xin kết hợp sự duy trì bằng cách phát quang hoàn toàn (của các quyền lực ấy).

* * *

JAYAPARITTAGĀTHĀ

Mahākāruṇiko nātho,
Hitāya sabbapāṇinaṃ,
Pūretvā pāramī sabbā,
Patto sambodhimuttanaṃ.

Đức Chánh-Biến-Tri là đấng cứu thế, Ngài gồm có đức Đại Bi, Ngài bổ khuyết tất cả Pháp PĀRAMĪ đem lợi ích đến chúng sanh rồi, Ngài chứng quả Toàn Giác tối thượng.

Etena saccavajjena,
Hotu te jayamaṅgalaṃ.

Do lời chân thật nầy, xin cho hảo vận phát sanh đến người.

Jayanto bodhiyā mūle,
Sakyānaṃ nandivaddhano,
Evaṃ tvaṃ vijayo hohi,
Jayassu jayamaṅgale,
Aparājitapallaṅke,
Sīse paṭhavipokkhare.

Đức Chánh-Biến-Tri khuyến khích cả dòng Thích-Ca được hân hoan phát đạt, Ngài đã cảm thắng Ma Vương rồi đắc bậc tối cao, Ngài thỏa mãn (Pháp Ngài Giác ngộ) trên bảo tọa bất khả chinh phục kế cận cội Bồ-Đề, ngay trung tâm địa cầu.

Abhiseke sabbabuddhānaṃ,
Aggappatto pamodati.

Như lá sen là nơi đăng quang của Chư Phật thế nào, xin cho người chiến thắng (nghịch pháp) như vậy.

Sunakkhattaṃ sumaṅgalaṃ,
Supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ,
Sukhaṇo sumuhutto ca,
Suyiṭṭhaṃ brahmacārisu.

Giờ nào chúng sanh thực hành thân, khẩu, ý trong sạch, giờ đó gọi là vận mệnh tốt, là giờ xán lạn, là khắc tốt, là canh tốt, (tài thí mà) người đã cúng dường đến các bậc Phạm Hạnh rồi (giờ đó) gọi là cúng dường [12] chân chánh.

Padakkhiṇaṃ kāyakammaṃ,
Vācākammaṃ padakkhiṇaṃ,
Padakkhiṇaṃ manokammaṃ,
Paṇidhī te padakkhiṇā,
Padakkhiṇāni katvāna,
Labhantatthe padakkhiṇe.

Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Sự nguyện vọng của những người đó, cũng gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế, rồi sẽ được những lợi ích phát đạt.

So atthaladdho sukhito,
Viruḷho buddhasāsane,
Arogo sukhito hohi,
Saha sabbehi ñātibhi.

Người (nam) ấy hãy được lợi ích, được an vui, hãy được phát đạt trong Phật giáo, hãy đừng có bịnh hoạn, cho được an vui cùng với quyến thuộc cả thảy.

Sā atthaladdhā sukhitā,
Viruḷhā buddhasāsane,
Arogā sukhitā hohi,
Saha sabbehi ñātibhi.

Người (nữ) ấy hãy được lợi ích, được an vui, hãy được phát đạt trong Phật giáo, hãy đừng có bịnh hoạn, cho được an vui cùng với quyến thuộc cả thảy.

Te atthaladdhā sukhitā,
Viruḷhā buddhasāsane,
Arogā sukhitā hotha,
Saha sabbehi ñātibhi.

Tất cả người (nam và nữ) ấy hãy được lợi ích, được an vui, hãy được phát đạt trong Phật giáo, hãy đừng có bịnh hoạn, cho được an vui cùng với quyến thuộc cả thảy.

* * *

ĀṬĀNĀṬIYAPARITTAGĀTHĀ

Sakkatvā buddharatanaṃ,
Osathaṃ uttamaṃ varaṃ,
Hitaṃ devamanussānaṃ,
Buddhatejena sotthinā,
Nassantupaddavā sabbe,
Dukkhā vūpasamentu te.

Xin cho tất cả điều nguy khốn được tiêu tan, những khổ não của người đều yên lặng, nhờ sự vinh quang và vẻ Uy linh của đức Phật, vì lòng tôn kính Phật-Bảo, như món linh dược quý cao, là lợi ích đến Chư Thiên và nhân loại.

Sakkatvā dhammaratanaṃ,
Osathaṃ uttamaṃ varaṃ,
Pariḷāhūpasamanaṃ,
Dhammatejena sotthinā,
Nassantupaddavā sabbe,
Bhayā vūpasamentu te.

Xin cho tất cả điều nguy khốn được tiêu tan, những lo sợ của người đều yên lặng, nhờ sự vinh quang và vẽ Uy linh của đức Pháp, vì lòng tôn kính Pháp-Bảo, như món linh dược quý cao, là Pháp trấn tĩnh điều Phiền Não.

Sakkatvā saṅgharatanaṃ,
Osathaṃ uttamaṃ varaṃ,
Āhuneyyaṃ pāhuneyyaṃ,
Saṅghatejena sotthinā,
Nassantupaddavā sabbe,
Rogā vūpasamentu te.

Xin cho tất cả điều nguy-khốn được tiêu tan, những bịnh-hoạn của người đều yên-lặng, nhờ sự vinh-quang và vẽ Uy-linh của đức Tăng, vì lòng tôn kính Tăng-Bảo, như món linh-dược quý cao, đáng cho người cúng dường và hoan nghinh tôn trọng.

Yaṃkiñci ratanaṃ loke,
Vijjati vividhaṃ puthu,
Ratanaṃ buddhasamaṃ natthi,
Tasmā sotthī bhavantu te.

Những báu vật trong thế-gian có nhiều thứ nhiều loại, các báu vật ấy chẳng sánh bằng Phật-Bảo đâu, vì thế, cầu xin hạnh-phúc phát sanh đến người.

Yaṃkiñci ratanaṃ loke,
Vijjati vividhaṃ puthu,
Ratanaṃ dhammasamaṃ natthi,
Tasmā sotthī bhavantu te.

Những báu vật trong thế gian có nhiều thứ nhiều loại, các báu vật ấy chẳng sánh bằng Pháp-Bảo đâu, vì thế, cầu xin hạnh phúc phát sanh đến người.

Yaṃkiñci ratanaṃ loke,
Vijjati vividhaṃ puthu,
Ratanaṃ saṅghasamaṃ natthi,
Tasmā sotthī bhavantu te.

Những báu vật trong thế gian có nhiều thứ nhiều loại, các báu vật ấy chẳng sánh bằng Tăng-Bảo đâu, vì thế, cầu xin hạnh phúc phát sanh đến người.

*

Natthi me saraṇaṃ aññaṃ,
Buddho me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena,
Hotu te jayamaṅgalaṃ.

Chẳng có chi đáng cho tôi phải nương theo, chỉ có Đức Phật là nơi nương cao quý của tôi; do lời chân thật nầy, xin cho hảo vận phát sanh đến người.

Natthi me saraṇaṃ aññaṃ,
Dhammo me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena,
Hotu te jayamaṅgalaṃ.

Chẳng có chi đáng cho tôi phải nương theo, chỉ có Pháp-Bảo là nơi nương cao quý của tôi; do lời chân thật nầy, xin cho hảo vận phát sanh đến người.

Natthi me saraṇaṃ aññaṃ,
Saṅgho me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena,
Hotu te jayamaṅgalaṃ.

Chẳng có chi đáng cho tôi phải nương theo, chỉ có Đức Tăng là nơi nương cao quý của tôi; do lời chân thật nầy, xin cho hảo vận phát sanh đến người.

*

So atthaladdho sukhito,
Viruḷho buddhasāsane,
Arogo sukhito hohi,
Saha sabbehi ñātibhi.

Người (nam) ấy hãy được lợi ích, được an vui, hãy được tiến hóa trong đường Phật đạo, khỏi bịnh hoạn, được sự an vui cho những người trong gia quyến cả thảy.

Sā atthaladdhā sukhitā,
Viruḷhā buddhasāsane,
Arogā sukhitā hohi,
Saha sabbehi ñātibhi.

Người (nữ) ấy hãy được lợi ích, được an vui, hãy được tiến hóa trong đường Phật đạo, khỏi bịnh hoạn, được sự an vui cho những người trong gia quyến cả thảy.

Te atthaladdhā sukhitā,
Viruḷhā buddhasāsane,
Arogā sukhitā hotha,
Saha sabbehi ñātibhi.

Những người (nam nữ) ấy hãy được lợi ích, được an vui, hãy được tiến hóa trong đường Phật đạo, khỏi bịnh hoạn, được sự an vui cho những người trong gia quyến cả thảy.

-ooOoo-

[1] Tàu dịch: Thế Tôn.

[2] Ứng Cúng.

[3] Đến bờ kia.

[4] Đến bờ trên.

[5] Đến bờ cao-thượng.

[6] Thí con, thí vợ, thí của, thí chi thể, thí sanh mạng.

[7] Hành cho lợi kỷ, cho lợi thân quyến, cho lợi chúng sinh.

[8] Kinh cầu an.

[9] Thiện Thệ.

[10] Người đáng thọ lãnh của người tin lý nhân quả dâng cúng.

[11] GOTAMA, Tàu âm là: Cồ-Đàm.

[12] Cũng gọi là tôn kính, tôn sùng.

-ooOoo-

Quý vị có thể để lại nhận xét, ý kiến hoặc lời nhắn tại ô này. Thanh Tịnh Lưu Ly xin thành kính tri ân và ghi nhận mọi đóng góp ý kiến từ quý vị

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s