KINH TRƯỜNG BỘ: LỜI NÓI ĐẦU

Trường Bộ Kinh – Digha Nikaya

Lời giới thiệu

Các thập kỷ qua đã hình thành nhiều bản dịch Việt văn về Kinh, Luật, Luận thuộc Nam tạng và Bắc tạng. Ðây là các công trình cá nhân và là công trình của vài trường Cao đẳng Phật học. Mãi đến năm 1990, ngót mười năm sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất các hệ phái Phật giáo trên ba miền đất nước, Hội đồng Phiên dịch và Ấn hành Ðại Tạng Kinh Việt Nam mới chính thức được thành lập. Năm 1991, được sự ủng hộ của Ban Tôn giáo Chính phủ và sự chấp thuận của Cục Xuất bản, Hà Nội, Giáo hội khởi đầu ấn hành bộ Trường A Hàm và bộ Trường Bộ Kinh mở đầu Ðại Tạng Kinh Việt văn đầu tiên. Phật sự phiên dịch và ấn hành này là Phật sự quan trọng bậc nhất hiện nay của Giáo hội đáp ứng được lòng mong mỏi thiết tha của nhiều thế hệ Tăng, Ni và Phật tử Việt Nam.

Bộ Kinh Trường Bộ do Hòa thượng Thích Minh Châu, Tiến sĩ Phật học tại Viện Phật học Nalandà, Ấn Ðộ, hiện là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo Phiên dịch và Ấn hành Ðại Tạng Kinh Việt Nam, dịch. Năm 1991, Hòa thượng thân hành hiệu đính bản dịch trước khi đưa ra ấn hành. Chúng tôi đặt nhiều tin tưởng vào sự trung thành của bản dịch đối với nguyên bản Pàli.

Thay mặt Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Phiên dịch và Ấn hành Ðại Tạng Kinh Việt Nam, chúng tôi cầu nguyện cho Phật sự phiên dịch và ấn hành Ðại Tạng Kinh Việt Nam trọng đại này sớm thành tựu viên mãn.

Thay mặt Hội đồng Chứng minh GHPGVN
Thay mặt Hội đồng Phiên dịch và Ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam

Pháp Chủ GHPGVN,
Hòa thượng Thích Ðức Nhuận
1991

Hội đồng Chứng minh:

1. Hòa thượng Thích Ðức Nhuận
2. Hòa thượng Thích Ðôn Hậu
3. Hòa thượng Thích Trí Tịnh
4. Hòa thượng Thích Mật Hiền
5. Hòa thượng Thích Huệ Thành
6. Hòa thượng Thích Giác Nhu
7. Hòa thượng Kim Cương Tử
8. Hòa thượng Thích Tâm Thông
9. Hòa thượng Thích Siêu Việt
10. Hòa thượng Mahà Saray
11. Hòa thượng Thích Trí Nghiêm.

Hội đồng Chỉ đạo Phiên dịch và Ấn hành Ðại tạng Kinh Việt Nam:

Chủ tịch: Hòa thượng Thích Minh Châu

Phó chủ tịch: Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Phó chủ tịch: Hòa thượng Kim Cương Tử
Phó chủ tịch: Hòa thượng Thích Thanh Kiểm
Phó chủ tịch: Thượng tọa Thích Thanh Từ
Phó chủ tịch: Thượng tọa Thích Thiện Châu

Trưởng ban Thư ký: Thượng tọa Thích Chơn Thiện
Trưởng ban Tài chánh: Thượng tọa Thích Giác Toàn
Trưởng ban In ấn và Phát hành: Cư sĩ Võ Ðình Cường
Trưởng ban Từ vựng Phật học: Cư sĩ Minh Chi

—0O0—

Lời giới thiệu
Hòa thượng Thích Minh Châu

Trích Lời Giới Thiệu, Trường Bộ Kinh, Tập III (1972):

… Cho dịch và cho in các bản kinh Pāli, tôi không mong muốn gì hơn là để các Phật tử, các Học giả, các Sinh viên được đọc thẳng vào những kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, và tự mình tìm hiểu những lời dạy thật sự của đức Phật, khỏi phải qua những lập trường của các bộ phái. Nhất là khỏi phải qua những xuyên tạc của những Học giả và những Phật tử muốn giải thích đạo Phật theo dục vọng và tà kiến của mình. Muốn chạy theo dục vọng, thì giải thích kinh điển một cách để hiểu rằng đạo Phật chấp nhận và tha thứ dục vọng. Muốn giết người và muốn binh vực kẻ giết người , đạo Phật được giải thích như là có thể tha thứ và chấp nhận sự giết người. Muốn chạy theo tà giáo và tà kiến, lại giải thích đạo Phật viên dung vô ngại, chấp nhận mọi tà kiến, mọi tà thuyết. Ta kiến nào, tà thuyết nào cũng là Phật giáo được hết! Muốn tránh những tai nạn trên, cần nhứt là phổ biến những kinh điển thực sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để Phật tử được đọc thẳng ngay kinh Phật, khỏi qua một ống kính màu nào.

Đạo Phật cần những cá nhân Phật tử biết suy tư, biết phân tích, biết tự tìm hiểu, rồi xác nhận sự hiểu biết của mình, ngang qua sự hành trì, kinh nghiệm cá nhân. Đạo Phật không cần đến những đoàn người theo đạo Phật, theo một cách ồ ạt mù quáng, theo một cách thụ động nhắm mắt, hay tự mình bóp méo, xuyên tạc đạo Phật theo tà kiến dục vọng của mình. Chính kinh Đại Bát Niết Bàn, có ghi rằng, dầu chúng ta có nghe vị Tỷ kheo nào nói tự thân nghe đức Phật, tự thân nghe các vị Thượng Tọa, Thủ Chúng, v.v… nói như vậy là Pháp, như vậy là Luật, đức Phật khuyên cũng không được tán thán, đả kích, chấp thuận, hay từ bỏ ngay, mà phải so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, có phù hợp mới được chấp nhận, không phù hợp thời phải từ bỏ. Đạo Phật đòi hỏi sự nhận xét, tìm hiểu, suy tư cá nhân rất nhiều. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu, suy tư khi chúng ta được đọc những lời dạy nguyên thỉ nhất hay gần nguyên thỉ nhất của đức Phật. Đó là nguyên nhân và động lực khiến tôi phải lo dịch và in bản Trường Bộ Kinh này.

Trích Lời Giới Thiệu, Trường Bộ Kinh, Tập IV (1972):

… Với tập IV này, tôi đã phiên dịch xong bộ Dīgha Nikāya (Trường Bộ Kinh), từ chữ Pāli ra tiếng Việt. Năm 1965, tôi in xong tập I, gồm 3 kinh đầu. Năm 1967, tôi in xong tập II, gồm 10 kinh kế tiếp. Năm 1972, tôi in xong tập III và tập IV, gồm 21 kinh trong khoảng thời gian kỷ lục 7 tháng, từ Tết Nhâm Tý (tháng 2-1972) cho đến nay, Vu Lan rằm tháng 7 (tháng 8-1972). Cứ xem thời gian hoàn thành từng tập một, mới thấy chức vụ đa đoan của một Viện Trưởng làm trở ngại cho sự phiên dịch như thế nào. Chúng tôi chỉ có thể để dành những ngày nghỉ, những buổi sáng thật sớm và những buổi tối (nếu không quá mệt mỏi vì những công việc ban ngày), để phiên dịch. Chúng tôi vẫn kiên trì phiên dịch và in cho xong tập IV, Trường Bộ Kinh là để hoàn thành một chí nguyện mà tôi ấp ủ từ khi tôi mới đi du học Tích Lan năm 1952. Về nước năm 1964, nếu tôi không nhận chức vụ Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh thời nay tôi đã dịch ít nhất cũng trọn bộ Kinh Tạng Pāli rồi. Tôi tự đánh dấu hỏi, làm Viện Trưởng hay làm một vị dịch kinh, làm chức vụ nào có lợi cho Phật Giáo hơn? Và tôi phải tự thẳng thắn để trả lời, dịch kinh có lợi hơn! Và tôi chỉ có thể vớt vát, bằng cách để những thời giờ thong thả, chú tâm vào vấn đề phiên dịch. Chúng tôi viết những dòng chữ này vừa để sám hối, vừa mong các Phật tử và các Học giả thông cảm cho.

Phiên dịch Tam Tạng Pāli có một dụng ý khác quan trọng hơn. Trước năm 1952, Việt Nam chúng ta chỉ biết có một số Kinh Đại Thừa căn bản, như Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Bát Nhã, Kinh Kim Cang, Kinh Di Đà v.v… dầu rằng chúng ta vẫn có Hán Tạng hết sức phong phú, nhưng ít người nghiên cứu. Các Kinh A Hàm, Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Di Giáo cũng có được đề cập. Tuy có biết, nhưng không dám học vì theo tứ y, cần phải “y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh.”

Qua Tích Lan, chúng tôi được biết đến Tam Tạng Pāli, rất là phong phú, rất gần với lời dạy nguyên thỉ của đức Phật, lại được phổ biến rộng rãi ở năm châu. Qua Ấn Độ, được biết thêm Tạng Sanskrit, dồi dào và phong phú hơn cả Tạng Pāli, nhưng nguyên bản gần như mất hết cả, ngoại trừ vài chục bộ mới tìm lại được. Cũng may Tạng Sanskrit được dịch ra Tạng Tây Tạng và Hán Tạng, và nhờ vậy hai tạng dịch này là kho tài liệu khá đầy đủ cho nguyên tạng Sanskrit. Nhưng nếu Pāli là Tam tạng vừa là nguyên thỉ, vừa là của học phái Thượng Tọa Bộ, Tạng Sanskrit phong phú hơn, là Tam Tạng cũng vừa là nguyên thỉ, vừa thuộc nhiều học phái như Nhứt Thế Hữu Bộ, Đại Chúng Bộ, Đàm Vô Đức Bộ, Di Sa Tắc Bộ v.v… và cũng vừa là tạng của Đại Thừa. Gía trị của hai tạng dịch là như vậy, và Tạng Trung Hoa cũng có dịch một số kinh tạng Pāli có thể do Ngài Pháp Hiển, thế kỷ thứ VI đem từ Tich Lan về. Nếu chúng ta muốn tìm đến Tạng nào hay Kinh nào có thể là đại diện cho nguyên thỉ, chúng ta chỉ cần so sánh Kinh Tạng Luật Tạng Pāli và Kinh Tạng A Hàm và Luật Tạng các Học phái. Những điểm nào giống nhau, thời chúng ta có thể chấp nhận là Tạng Nguyên Thỉ. Những điểm dị biệt có thể là do dị biệt lập trường của các Học phái. Cho dịch Trường Bộ Kinh này, chúng tôi không mong gì hơn là giới thiệu Tạng Pāli cho Phật tử và Học giả Việt Nam và cũng mở đầu một môn học mới, tức là môn Tỷ Giáo Học giữa Kinh Tạng, Luật Tạng Pāli và Tạng chữ Hán tương đương. Môn Tỷ Giáo học này sẽ giúp chúng ta hiểu được thế nào là Tạng Nguyên Thỉ của Phật Giáo

Có người sẽ cho, dịch Tạng Pāli là tuyên truyền cho Tiểu Thừa, phản lại tư tưởng Đại Thừa. Chúng ta nên chấm dứt ngay thái độ ngây thơ và buồn cười này. Đạo Phật không có Đại Thừa, Tiểu Thừa, không có Nam Tông, Bắc Tông. Đạo Phật gồm có một số giáo lý căn bản mà học phái nào cũng phải tôn trọng, một số pháp môn thiết yếu mà đệ tử Phật tử nào cũng phải y cứ để tu hành, nếu không muốn lạc vào tà giáo, ngọai đạo. Cho dịch Tạng Pāli là chúng tôi muốn giới thiệu và tìm hiểu số giáo lý căn bản ấy và số pháp môn thiết yếu ấy. Những danh từ Đại Thừa, Tiểu Thừa, Nam Tông, Bắc Tông là những danh từ đẻ ra sau này để phân biệt các học phái, và một học phái chỉ được gọi là học phái Phật Giáo khi nào học phái ấy tôn trọng và trung thực với số giáo lý, số pháp môn căn bản ấy.

Ngày nay, một nhà nghiên cứu Phật Giáo, phải biết đến Phật Giáo Nguyên Thỉ, phải biết đến Phật Giáo các Học Phái và phải biết đến Phật Giáo Đại Thừa mới có thể có một cái nhìn đại thể về lịch sử tư tưởng Phật Giáo. Sau khi nắm được cái nhìn đại thể, vị ấy có thể chọn lấy một ngành nào, hay một pháp môn nào làm ngành chuyên môn của mình. Cho dịch Kinh Tạng Pāli, chúng tôi muốn giúp phần tài liệu nghiên cứu cho các nhà học giả ấy để có thể biết đến Phật Giáo Nguyên Thỉ và biết đến Học phái Thượng Tọa Bộ, một học phái có tiếng là bảo thủ nhất, trung thành với tư tưởng và lối sống Phật Giáo Nguyên Thỉ nhất, và là học phái duy nhất gìn giữ được gần như trọn vẹn cả ba tạng giáo điển.

Hơn thế nữa, ngày nay chúng ta nhận thấy một chiều hướng mới đã bắt đầu sống dậy trong những nhà tìm hiểu tư tưởng Phật Giáo, một chiều hướng đi ngược lên Phật Giáo Nguyên Thỉ, tìm hiểu những căn bản giáo lý mà phần lớn các học phái chấp nhận, giới thiệu một lối sống đích thực, đức Phật muốn giảng dạy cho các đệ tử để sống ngay với đời sống hiện tại, khỏi phải qua những phân ly các học phái, hay những mê tín, dị đoan, cuồng tín v.v… đã dần dần xâm nhập vào Đạo Phật, làm mất bản chất thuần túy của Đạo Phật nghìn xưa. Hơn nữa, ngày nay người ta dần dần ý thức rằng chỉ có Đạo Phật Nguyên Thỉ mới đáp ứng được những đòi hỏi của một thế giới khoa học hiện tại. Một tôn giáo muốn được giới trí thức trẻ hiện tại chấp nhận, vừa phải không mâu thuẫn với những phát minh khoa học mới mẻ nhất, vừa phải giải quyết được những vấn đề thuộc phạm vi con người của con người ở thế kỷ thứ hai mươi, hai mốt này. Chỉ có Đạo Phật Nguyên Thỉ mới may ra đáp ứng được những đòi hỏi trên, và cho dịch tập Trường Bộ Kinh này, chúng tôi nuôi dưỡng một hy vọng rất khiêm tốn, là giới thiệu được tới tay các Học giả và các Phật tử, một phần nào những lời dạy thật sự nguyên thỉ hay gần nguyên thỉ nhất của Đạo Phật.

Tỷ kheo Thích Minh Châu
Đại học Vạn Hạnh
Sài Gòn, 1972

 

—000—

Mục lục kinh tương đương giữa Trường Bộ và Trường A-hàm


Trường Bộ

Trường A-hàm

Stt

Tên kinh

Stt

Tên kinh

01 Kinh Phạm Võng (Brahmajàla Sutta) 21 Kinh Phạm Ðộng
02 Kinh Sa-môn quả (Sàmanna-Phala Sutta) 27 Kinh Sa-môn quả
03 Kinh A-ma-trú (Ambbattha Sutta) 20 Kinh A-ma-trú
04 Kinh Chủng Ðức (Sonadanda Sutta) 22 Kinh Chủng Ðức
05 Kinh Cứu-la-đàn-đầu (Kutadanta Sutta) 23 Kinh Cứu-la-đàn-đầu
06 Kinh Ma-ha-li (Mahàli Sutta) (không có)
07 Kinh Xa-li-da (Jàliya Sutta) (không có)
08 Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sihanàda Sutta) 25 Kinh Loã Hình Phạm Chí
09 Kinh Bố-sá-ba-lâu (Potthapàda Sutta) 28 Kinh Bố-sá-ba-lâu
10 Kinh Tu-ba (Subha Sutta) (không có)
11 Kinh Kiên-cố (Kevaddha Sutta) 24 Kinh Kiên-cố
12 Kinh Lô-già (Lohicca Sutta) 29 Kinh Lô-già
13 Kinh Tam Minh (Tevijja Sutta) 26 Kinh Tam Minh
14 Kinh Ðại Bổn (Mahà-Padàna Sutta) 01 Kinh (Sơ) Ðại Bổn
15 Kinh Ðại Duyên (Mahà-Nidàna Sutta) 13 Kinh Ðại Duyên Phương Tiện
16 Kinh Ðại Bát-niết-bàn (Mahà-Parinibbàna Sutta) 02 Kinh Du Hành
17 Kinh Ðại Thiện Kiến Vương (Mahà-Sudassana Sutta) (không có)
18 Kinh Xa-ni-sa (Janavasabha Sutta) 04 Kinh Xa-ni-sa
19 Kinh Ðại Ðiên-tôn (Mahà-Govinda Sutta) 03 Kinh Ðiên Tôn
20 Kinh Ðại Hội (Mahà-Samaya Sutta) 19 Kinh Ðại Hội
21 Kinh Ðế-thích Sơ Vấn (Sakka-Tanha Sutta) 14 Kinh Thích-Ðề Hoàn Nhân Vấn
22 Kinh Ðại Niệm Xứ (Mahà-Satipatthàna Sutta) (không có)
23 Kinh Tệ Túc (Pàyàsi Sutta) 07 Kinh Tệ Túc
24 Kinh Ba-lê (Pàtika Sutta) 15 Kinh A-Nậu-Di
25 Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư Tử Hống (Udumbarika-Sihanàdà Sutta) 08 Kinh Tán-Ðà-Na
26 Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống (Cakkavatti Sihanàda Sutta) 06 Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành
27 Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Agganana Sutta) 05 Kinh Tiêu Duyên
28 Kinh Tự Hoan Hỷ (Sampasàdaniya – Suttanta) 18 Kinh Tự Hoan Hỷ
29 Kinh Thanh Tịnh (Pàsàdika Sutta) 17 Kinh Thanh Tịnh
30 Kinh Tướng (Lakkhana Sutta) (không có)
31 Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Singàlovàda Sutta) 16 Kinh Thiện Sanh
32 Kinh A-sá-nang-chi (Atànàtiya Suttanta) (không có)
33 Kinh Phúng Tụng (Sangiti Sutta) 09 Kinh Chúng Tập
34 Kinh Thập Thượng (Dasuttara Sutta) 10 Kinh Thập Thượng
Ghi chú: Số thứ tự (Stt) các Kinh trong Trường Bộ được ghi theo Pàli Tạng. Số thứ tự các Kinh trong Trường A-hàm được ghi theo Hán Tạng.

 -ooOoo-

Trường A-hàm

Trường Bộ

1 Kinh Đại bản D.14. Mahāpadāna.
2 Kinh Du hành D.16. Mahāparinibbāna;
D.17. Mahāsudassana.
3 Kinh Điển Tôn D.19. Mahāgovinda.
4 Kinh Xà-ni-sa D.18. Janavasabha.
5 Kinh Tiểu duyên D.24. Agañña.
6 Kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành D.26. Cakkavattī.
7 Kinh Tệ-tú D.23. Payāsi.
8 Kinh Tán-đà-na D.25. Udumbarikasīhanāda.
9 Kinh Chúng tap D.33. Samgīti.
10 Kinh Thập thượng D.34. Dasuttara.
11 Kinh Tăng nhất (không có).
12 Kinh Tam tụ (không có).
13 Kinh Đại duyên phương tiện D.15. Mahānidāna.
14 Kinh Thích Đề-hoàn Nhân vấn D.21. Sakkapañha.
15 Kinh A-nậu-di D.24. Pātika.
16 Kinh Thiện sanh D.31. Sivgalovāda.
17 Kinh Thanh tịnh D.29. Pāsādika.
18 Kinh Tự hoan hỷ D.28. Sampadānīya.
19 Kinh Đại hội D.20. Mahāsamaya.
20 Kinh A-ma-trú D.3. Ambattha.
21 Kinh Phạm động D.1. Brahmajāla.
22 Kinh Chủng Đức D.4. Sonadanda.
23 Kinh Cứu-la-đàn-đầu D.5. Kūtadanda.
24 Kinh Kiên cố D.11. Kevada.
25 Kinh Lõa hình phạm chí D.8. Kassapa.
26 Kinh Tam minh D.13. Tevijjā.
27 Kinh Sa-môn quả D.2. Sāmaññaphala.
28 Kinh Bố-tra-bà-lâu D.9. Potthapāda.
29 Kinh Thế ký (không có).

Quý vị có thể để lại nhận xét, ý kiến hoặc lời nhắn tại ô này. Thanh Tịnh Lưu Ly xin thành kính tri ân và ghi nhận mọi đóng góp ý kiến từ quý vị

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s