DUY LỰC NGỮ LỤC: QUYỂN HẠ – PHẦN 12

DUY LỰC NGỮ LỤC
QUYỂN HẠ
(Bài giảng trong các năm (1992 – 1999)
HT. THÍCH DUY LỰC
—-o0o—

Bài giảng trong các năm 1992 – 1999
12.
10/10/1994 – 16/10/1994 tại Chùa Từ Ân, Qu.11
Hỏi: Thế nào là nhìn vào chỗ hầm sâu đen tối?
Đáp: Chỗ đen tối là phương tiện để tập nhìn, ví như hiện nay mở mắt thì thấy rõ cái này là cái bình, kia là cái tách, còn nhắm mắt thì không thấy, chỉ thấy đen tối, cái tách cái bình … mọi thứ đều không biết, Tổ Sư Thiền là dùng cái không biết đó để tu, cứ nhìn chỗ không biết. Nay dùng cái đen tối đó thay thế chỗ không biết, đến khi nhìn được rồi, không cần nhờ đen tối để nhìn nữa, mở mắt cũng không thấy gì. Cũng như lúc tập đi xe đạp, ban đầu kể cả leo lên cũng không được, phải nhờ người khác vịn chiếc xe mới leo lên, rồi đạp cũng không đi, phải nhờ người khác đẩy giùm. Tập một thời gian, tự mình biết chạy rồi, không cần người khác giúp nữa. Nhìn vào hầm sâu đen tối cũng vậy, ban đầu nhờ cái đen tối để nhìn, đã nhìn được thì cái đen tối cũng khỏi.
Hỏi: Tâm và tánh có khác nhau không?
Đáp: Nếu nói về tâm và bản tánh thì chẳng khác, ví như nói tự tâm cũng là kiến tánh, kiến tánh thì tự tánh hiện, cũng là tự tâm hiện, còn người thế gian thì có khác, người thì tánh thiện, người thì tánh ác, người thì ham thích vui chơi, người thì ham thích yên tịnh v.v… nhưng tâm không khác, vốn như hư không chẳng có gì hết.
Hỏi: Vừa rồi Sư phụ khai thị về nhân quả, nhân nào quả nấy, giết người phải đền mạng, ăn cục thịt trả cục thị, nhưng Phật tử và người xuất gia nếu phạm những giới điều hoặc tạo tội nhân quả, có cách nào giải quyết tốt nhất?
Đáp: Cách giải quyết tốt nhất là kiến tánh, ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh, nhảy ra ngoài chiêm bao thì tất cả giải quyết xong. Không kiến tánh phải từ thân này qua thân khác, cứ ở trong luân hồi mãi, chẳng thể giải quyết được.
Hỏi: Thế nào là thâu nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục?
Đáp: Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ tát dạy về cách tu Tịnh Độ: “Độ nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục”, đó là bao gồm tức nhiếp cả nhãn nhỉ tỷ thiệt thân ý. Muốn nhiếp nhãn căn phải không phân biệt xấu đẹp, nhiếp được nhĩ căn thì không phân biệt khen chê, tức là khen cũng không vui, chê cũng không buồn. Nhiếp những căn khác cũng vậy.
Nay nhiều người tu Tịnh Độ không nhiếp được căn nào, mà chỉ mong lúc lâm chung có Phật A Di Đà đến rước, đã không biết tông chỉ của Tịnh Độ thì làm sao thực hành cho đúng? Phải thực hành đúng mới có Phật đến rước. Nguyện lực của Phật A Di Đà rất mạnh, ví như làn sóng điện của đài phát thanh, dù máy radio rất nhỏ, bất kể ở phương trời nào, chỉ cần vặn đúng với làn sóng tổng đài thì tự nhiên thu được hiệu quả, hễ xê xích một sợi tóc là thu không được. Tu Tịnh Độ cũng vậy, nguyện của mình phải đúng với nguyện của Phật A Di Đà mới có tương ưng, thì dù ở khít một bên cũng không được, đâu phải chỉ niệm Phật là Phật đến rước!
Hỏi: Thế nào gọi là tu?
Đáp: Tu hành là thực dụng trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, chứ chẳng phải chỉ là miệng nói suông. Cuộc sống hằng ngày ăn cơm, mặc áo, nói năng, tiếp khách … tất cả đều là tu, luôn cả ngủ nghỉ, đi đứng nằm ngồi đều là tu, đâu phải chỉ có niệm Phật tham thiền mới là tu!
Tu như thế nào! Ăn cơm cứ ăn cơm, chỉ biết ăn cơm, không cho thêm ý mình vào; mặc áo cứ mặc áo, chỉ biết mặc áo, tức tu vậy. Thế là làm sao? Ăn cơm, chỉ là ăn, đừng thêm ý của mình cho là cơm này ngon, cơm kia không ngon, đồ ăn này ngon, đồ ăn kia dở, mặc áo cũng vậy, cho là áo này đẹp, áo kia xấu v.v… hễ có xen vào ý mình là không phải tu.
Bất cứ cái gì trong thực dụng hằng ngày đều là tu, chứ chẳng phải đi đâu mới là tu, đi chỗ nào cũng là tu cả.
Hỏi: Con muốn thỉnh Phật về thờ, bên Thiền Tông phải làm sao!
Đáp: Thiền đường đầu tiên của Ngài Bá Trượng không có thờ Phật, đó không phải là không kính trọng Phật, vì theo đúng lời dạy của Phật là phải tin tự tâm là Phật, cũng như Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói: “Tự qui y Phật, tự qui y Pháp, tự qui y Tăng”, tức qui y tự tánh Phật, chẳng phải qui y ở ngoài. Cho nên, tất cả tôn giáo khác đều phải tin theo giáo chủ, còn Phật Thích Ca thì dạy chúng ta phải tự tin mình, mỗi người đều đạt đến tự do tự tại, giải thoát tất cả khổ, mới được gọi là độ, nếu còn phải chịu khổ, hoặc muôn ngàn kiếp sau khổ còn trở lại thì không được, nên Tâm Kinh nói “Chơn thật bất hư”.
Hỏi: Khi con chết phải dặn các con niệm như thế nào?
Đáp: Đó là bên Tịnh Độ và Giáo môn, còn Thiền Tông thì ngay bây giờ, những gì đã qua rồi thì quên đi, không ghi nhớ, vị lai chưa đến không sắp đặt, hiện tại trước mắt cũng không trụ. Nếu thực hành được như thế, mặc dầu chưa kiến tánh, cuộc sống cũng rất thoải mái, chẳng có điều gì phải lo rầu nữa. Quá khứ, hiện tại, vị lai đều không cần lo, lo chi đến chết! Nếu sọ chết thì hãy lo tu đi, nó sẽ tự giải quyết, chẳng lo tu mà lo mong người khác giúp, hoặc lo sau khi chết phải làm sao, ấy là tư tưởng của người đời.
Hỏi: Bản thân con cũng như nhiều vị xuất gia, do cha mẹ nghèo khổ không ai nuôi nấng, nên đôi khi đem những của cúng thí mà đàn na thí chủ cúng riêng cho mình để giúp đỡ cha mẹ, ngoài ra cũng có nhiều vị Trụ trì khi cha mẹ mất cũng làm lễ cúng thất trai tuần v.v… Vậy những vấn đề trên có phạm phải nhân quả tội báo gì không?
Đáp: Theo Giới luật, đã xuất gia thì không có gia, Động Sơn Thiền sư, Sơ Tổ tông Tào Động, sau khi xuất gia gởi thơ cho cha mẹ, nói rằng không có gặp nữa. Lá thơ này có ghi trong cuốn Thiền Học Đại Thành.
Người xuất gia giúp đỡ cho Phật tử thì được, nếu giúp cho cha mẹ mình, phải mắc nợ tín thí, sau này phải trả. Trong tòng lâm, như Ngài Hư Vân là Trụ trì, muốn mời khách riêng của cá nhân, đến khố phòng mua dầu xào thức ăn, chỉ thiếu một xu cũng phải quay về lấy đủ tiền rồi khố phòng mới đưa dầu cho.
Cho nên, nói đến vấn đề nhân quả rất vi tế, nếu nói cha mẹ mình nghèo thì cũng có người nghèo hơn, nghèo đói đến gần chết, sao mình không giúp mà chỉ giúp cho cha mẹ? Như vậy là có phân biệt, chẳng thể xem cha mẹ như những Phật tử khác, tức có ngã chấp. Chánh pháp phải phá ngã chấp, đã xuất gia thì không còn nhà nữa. Cũng có nhiều vị Tu sĩ trong tòng lâm, có anh em ruột đến thăm, Tri khách đãi cho một bữa cơm xong, vị ấy bảo người nhà phải trả tiền lại. Nay nhiều người dùng tiền của mười phương làm đám giỗ cho cha mẹ, việc đó bề ngoài bình thường, chẳng thấy sao, nhưng trong đó đều có nhân quả. Tôi thường nói: Nhân nào quả nấy, đã tạo nhân ắt phải chịu quả. Có bài kệ rằng:
Một hạt gạo thí chủ,
Lớn như núi Tu Di,
Nếu không tu giải thoát,
Mang lông đội sừng trả.
Hỏi: Vậy tại sao trong giới luật Tỳ kheo có ghi: Nếu cha mẹ nghèo khổ không ai nuôi, có thể khất thực về nuôi cha mẹ?
Đáp: Đúng, nếu thật sự chẳng còn ai nuôi dưỡng cha mẹ thì có thể rước cha mẹ về chùa nuôi. Ngũ tỗ Hoàng Nhẫn vì không còn ai nuôi nấng mẹ, nên rước mẹ về chùa nuôi. Mình chẳng phải là không có hiếu, thập phương cúng dường tiền của là để chúng ta khỏi đi làm việc kiếm sống để chuyên tu giải thoát, tự giác giác tha, hiếu này là đại hiếu. Dù xuất gia không nuôi nấng cha mẹ, nhưng phải độ cha mẹ. Nên Kinh nói: “Trước dùng thỏa mãn ham muốn để lôi kéo, sau khiến vào trí huệ Phật”, vào trí huệ Phật mới có thể giải thoát.
Hỏi: Vậy Ngài Lai Quả tham câu này như thế nào?
Đáp: Ngài Lai Quả tham câu: “Niệm Phật là ai?” đến lúc ngủ mê lớn tiếng niệm Phật mà tự chẳng biết, nên mới có thể tham câu này được kiến tánh. Theo tôi biết từ mấy trăm năm nay, bao nhiêu người chọn câu này, chỉ có một mình ngài Lai Quả kiến tánh, ngoài ra không có người nào, còn các vị tổ khác như Ngài Hư Vân tham câu “Kéo tử thi là ai”, Ngài Nguyệt Khê cũng không phải tham câu niệm Phật là ai. Tôi chỉ đề ra năm câu này ra, có câu nào thắc mắc nhất thì vẫn là tốt hơn, bởi vì cần có nghi tình thật sự.
Hỏi: Tại sao Phật Giáo nguyên thủy ăn mặn?
Đáp: Phật Giáo nguyên thủy không phải ăn mặn, hồi thời Phật Thích Ca, tu sĩ phải đi khất thực, ai cho cái gì vào bình bát thì ăn cái nấy, con nít không biết gì, bỏ nắm cát vào cũng phải ăn luôn, vì không có sự phân biệt, nêm giò heo cũng ăn, nắm cát cũng ăn, còn thời nếu có phân biệt thì là ăn mặn chứ không phải ăn chay. (Sư phụ kể về phong tục trai Tăng ở Thái Lan, xem trang 178).
Hỏi: Thế nào là Ứng thân trong Tam Bảo?
Đáp: Phật tánh của ông là Pháp thân, thân hiện tại của ông là Ứng thân, cũng gọi là Báo thân, tức do trước kia tạo nghiệp con người, nên có cái ứng thân này để ứng với nghiệp quả. Nếu ông tu đến thành Phật thì hiện ra Thiên bá ức hóa thân. Như hiện nay Đức Phật có vô số ức hóa thân đang thuyết pháp nơi vô số ức quốc độ, đều có tên họ và tuổi tác khác nhau.
Hỏi: Vậy thế nào là Hóa thân?
Đáp: Đợi ông thành Phật rồi tôi giảng cho nghe.
Hỏi: Gần đây tà pháp thịnh hành, chẳng những hàng Phật tử, kể cả hàng Tăng ni xuất gia lại chủ trương tin theo cái thuyết “Phật mẫu Diêu Trì”, rằng mẫu có khả năng sinh ra nhà cửa đất đai, núi sông và tất cả. Xin Sư phụ khai thị vấn đề này.
Đáp: Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói đến 50 thứ ngũ ấm ma, thần thông biến hóa không ai bằng. Ví như mình ngồi đây, họ có thể hay từ đây sang Mỹ để đưa về món đồ từ Mỹ mà không đầy năm phút, những người tà ma có phép thân thông như thế, khiến người thường cho là Phật, là Bồ tát v.v… những người đi theo họ, khi họ đọa địa ngục thì đệ tử cũng đọa theo, vì đã giúp họ lừa gạt người khác.
Hỏi: Vậy làm thế nào đối trị với nhân sinh quan và vũ trụ quan sai lầm này? Thế nào là nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật Giáo?
Đáp: Tôi đã giải thích về tánh không, là tâm của mình, vốn chẳng hình thể số lượng, trống rỗng chẳng có gì cả, làm sao có nghĩa lý gì, làm sao có nhân sinh quan và vũ trụ quan! Nhân sinh quan là sinh tử mới có, sinh tử là luân hồi, có sinh tử rồi mới có vũ trụ, tức có TA là sinh tử, ta đối với nhân sinh cho là phải như vậy vậy mới đúng, cái kia kia là không đúng … đó là ý của ta, cũng là vọng tưởng. Trong Kinh Lăng Già gọi là “tự tâm hiện lượng” Nhân sinh quan cao nhất tức chủ quan, chớ nói là chủ quan, dù khách quan cũng không được. Đức Phật là muốn chúng ta giải thoát khổ sinh tử luân hồi.
Năm kia tôi thuyết pháp tại Canada, có một vị giao sư khoa Tâm lý học dạy ở trường đại học, lại chuyên giảng về môn tâm lý giữa thầy và trò. Khi ông ấy đến với tôi, tôi không nói về danh từ Phật pháp, chỉ nói về danh từ khoa học, tôi hỏi ông ấy:
– Theo thầy, khi giảng dạy, nên dùng thái độ nào đối với học trò mới đúng?
Ông ấy trả lời không được. Tôi nói:
– Phải giảng bằng thái độ khách quan, nếu giảng bằng thái độ chủ quan là không đúng.
Giữa thầy với trò đều phải nhìn bằng góc độ khách quan chứ không thể nhìn bằng chủ quan, vì chủ quan là có xen vào ý của mình, ấy là nói theo khoa học. Cho dù nói khách quan, nhưng vẫn còn cách xa so với Phật pháp, vì khách quan là đối với chủ quan, chưa phải là nghĩa vô trụ của Phật pháp, còn nói theo Phật pháp là vô sở trụ, chẳng những chủ quan không trụ, khách quan cũng không trụ.
Cho nên, tất cả hành giả tham thiền, trong cuộc sống hằng ngày chớ có dùng hai chữ “CHO LÀ”, bất cứ cho là cái gì đều là có sở trụ.
Hỏi: Diệt tận định, hành pháp thế gian và tổng trì, tương ưng bất tương ưng?
Đáp: Diệt tận định có hai thứ: Một là của các tôn giáo khác và một là của A la hán. Các tôn giáo khác diệt hết tất cả niệm nhưng còn chấp ngã, như cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng.
Hỏi: Diệt tận định đến chỗ tâm không pháp không, dục niệm đã hết, có tương ưng với chỗ hành pháp thế gian không?
Đáp: Diệt tận định của các tôn giáo khác vì còn chấp thức thứ tám là ta nên không được giải thoát, còn diệt tận định của A la hán thì kiến hoặc tư hoặc đều hết, phá được ngã chấp nên được ra khỏi sinh tử luân hồi. Ông nói tương ưng là tương với cái gì? Tổng trì là gì?
– Dạ thưa Sư phụ, tổng trì là tất cả pháp, cũng là pháp tánh.
– Ông nói tương ưng là tương ưng với thế gian hay xuất thế gian? Các tôn giáo khác thì chẳng thể tương ưng với pháp xuất thế gian, vì chưa ra khỏi luân hồi, còn diệt tận định của A la hán thì tương ưng với xuất thế gian, nhưng chỉ ở trong phạm vi Tiểu Thừa vì chưa phá được pháp chấp, chưa thể tương ưng với Đại thừa.
Hỏi: Trong mười bức tranh chăn trâu, bức thứ mười “Thỏng tay vào chợ” thì hành giả tu trong thời nay, hành pháp của họ dù ở thế gian nhưng họ luôn giữ cái uy nghi là tổng trì pháp xuất thế gian, phải vậy không?
Đáp: Vì ông chưa hiểu nghĩa Tổng trì, tổng là bao gồm tất cả pháp thế gian. Bây giờ Ông nói chuyện cũng là tổng trì vậy, vì pháp thế gian cũng là bao gồm trong tổng trì, nhưng ông chỉ tương ưng với pháp thế gian thôi, không thế là xuất thế gian được.
Hỏi: Nếu vậy là không thấy diệt tận định?
Đáp: Làm sao diệt tận định được? Diệt tận định là phải tu, tu đến tất cả tư tưởng đều diệt hết.
Hỏi: Vậy thì hành pháp tu của Sư phụ như thế nào? Có phải chỉ có tham thoại đầu mới được diệt tận định, còn tất cả hành pháp khác đều không được ư?
Đáp: Ai nói? Pháp của tôi hoằng dương không có đưa đến diệt tận định, phải quét sạch diệt tận định, không cho biết tới diệt tận định. Pháp này do Phật Thích Ca thân truyền, chỉ chú trọng một chữ NGHI thôi, không có cho là có diệt tận định, cũng không cho biết có diệt tận định.
Hỏi: Cái biết của bộ não và cái biết của Phật tánh khoảng cách bao xa?
Đáp: khi nào kiến tánh rồi sẽ biết là bao xa, nay chưa kiến tánh không thể biết được. Ngài Lai Quả nói: “Nay ta chỉ nói chỗ hành chứ chẳng phải chỗ thấy, chỗ thấy phải quý vị đi đến chỗ đó tự thấy.”
Hỏi: hàng đêm từ nhắm mắt chiêm bao thức tỉnh rồi lại có thể đi vào chiêm bao nữa, vậy khi từ mở mắt chiêm bao thức tỉnh rồi, có khi nào lại đi vào chiêm bao không?
Đáp: Không. Đức Phật trong Kinh có nói: “ Cây đã đốt thành tro thì không thể trở laị thành cây nữa, quặng đã luyện thành vàng thì không trở lại thành cây nữa, quặng đã luyện thành vàng thì không trở lại thành quặng. “ Nhắm mắt chiêm bao ngủ đã rồi tự thức, thức rồi ngủ lại đi vào chiêm bao, nhưng mở mắt chiêm bao chẳng thể tự động thức tỉnh, phải tu hành, phải tham thiền mới có thể thức tỉnh được, thức tỉnh rồi thì không đi vào chiêm bao nữa.
Hỏi: Vậy người từ mở mắt chiêm bao thức tỉnh rồi, có phải còn ăn cơm đi tiêu tiểu không?
Đáp: Nếu còn thân người thì mọi việc vẫn y như cũ, trước kia mỗi bữa ăn ba chén cơm, nay vẫn như vậy, ông vua kiến kiến tánh vẫn làm vua, Thừa tướng kiến tánh vẫn làm Thừa tướng, cuộc sống với người thường chẳng khác, nhưng tâm thì không như trước nữa.
Hỏi: Hòa thượng dạy chúng con phải tu, ai tu nấy chứng, ai ăn no, uống nước tự biết lạnh nóng, vậy tại sao trong kinh laị có câu “Nhất nhơn chứng đắc cửu huyền thăng”?
Đáp: Đó chẳng phải của Phật nói, mà là của ngoại đạo nói.
Hỏi: Với số lượng kinh sách hiện nay rất nhiều, chúng con hàng tại gia tài mọn sức kém, Vậy xin Hòa Thượng chỉ cho kinh nào đáng xem và kinh nào không nên?
Đáp: Kinh nào phá chấp thật là đúng, kinh nào chấp thật là không đúng; kinh nào phá ngã chấp là đúng, kinh nào chấp ngã là không đúng.
Hỏi: Giới Bồ tát tại gia và giới Bồ tát xuất gia có gì khác không?
Đáp: Khác, Giới Bồ tát tại gia chỉ có 6 điều trọng 28 điều khinh, còn Giới Bồ tát xuất gia là 10 trọng 48 điều khinh, tức giới Bồ tát xuất gia hơn về giới trọng nhiều hơn 4 điều, về giới khinh nhiều hơn 20 điều, lại nữa, về dâm giới thì Bồ tát xuất gia cấm cả tà dâm và chánh dâm, còn giới Bồ tát tại gia chỉ cấm tà dâm, không cấm chánh dâm.
Hỏi: Vô vi của Phật pháp và vô vi của Lão Tử, đồng và khác nhau như thế nào?
Đáp: Tức là tâm mình vốn chẳng có hữu vi và vô vi, do tâm chấp của chúng sinh mới thành có. Nếu chấp vào hữu vi hoặc vô vi đều không được, nên nói là vô trụ, tức chẳng trụ chỗ nào hết, cũng là bản thể của tâm và dụng của tâm.
Hỏi: Các Thầy thường dạy phải phước huệ song tu, đối với những người bố thí thì có phước báo, còn đối với những người không có tiền của bố thí, chỉ lo chuyên tu về huệ, vậy giữa hai người đó, người chuyên tu về huệ có phải mau kiến tánh hơn không?
Đáp: Chẳng phải như vậy, người không có tiền của cũng có thể phát tâm bố thí, hễ có phát tâm là có phước. Ví như tôi không có tiền, muốn bố thí một ngàn đồng mà không có, phát tâm sau này nếu có một ngàn đồng tôi sẽ bố thí, ấy cũng đã tạo phước duyên; hoặc thấy người khác bố thí, phát tâm hoan hỉ, gọi là công đức tùy hỉ, vì tất cả do tâm tạo, nói phước huệ song tu, kỳ thật tự tâm đầy đủ cả.
Hỏi: Sư phụ thường giảng về cái tánh Không sẵn sàng, vậy nghi tình có sẵn sàng không? Cái biết của bộ não có sẵn sàng không?
Đáp: Cái biết của bộ não là vọng, vọng thì đâu có sẵn sàng! Nếu đã sẵn sàng thì làm sao phá được? Cái sẵn sàng là phá không được, ví như hư không. Tất cả đều phá được, chỉ có hư không là chẳng phá được.
Hỏi: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tại sao loài súc sinh chẳng thể thành Phật trong hiện đời?
Đáp: Trong lục đạo gồm cõi Trời, Người, A-tu-la, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục, chỉ có cõi Người mới có thể tu thành Phật, cõi Trời dù cao hơn người nhưng chẳng thể tu thành Phật được. Tại sao? Vì họ chỉ có vui, không có buồn khổ, họ cứ hưởng cái vui, không biết đến khổ, còn con người biết có khổ, nên tu hành để dứt khổ.
Đối với Súc sinh, Ngạ quỷ, cho đến Địa ngục, do nghiệp thức nên không nghe biết sự thuyết Pháp, không biết tu hành thì làm sao có thể tu thành Phật? Chẳng những như thế, họ còn tạo thêm nghiệp, như mèo sát hại các sinh vật khác, chỉ gây thêm nghiệp chứ không thể dứt nghiệp được. Như cõi Trời có tuổi thọ sống lâu là để hưởng, còn Địa ngục có tuổi thọ sống lâu là để chịu tội, hễ tội nặng chừng nào thì sống lâu chừng nấy để chịu tội nhiều hơn, đâu còn thời gian để tu?.
Hỏi: Ở loài hữu tình thì gọi là Phật tánh, ở loài vô tình gọi là pháp tánh, vậy Phật tánh và pháp tánh là đồng hay khác?
Đáp: Vì tâm có tánh giác ngộ, nên gọi là Phật tánh. Đối với Pháp tánh, nếu nói cho đúng thì tất cả pháp đều chẳng tự tánh, nay do con người đặt ra các tánh mỗi mỗi khác biệt, như tánh không của cái tách v.v…do con người tự hạn chế thành có khác, nhưng cái Không sẵn sàng thì chẳng khác.
Ví như nói “Phật tánh” vốn không phải là Phật Tánh, vì tâm này sẽ giác ngộ được, mà chữ Phật nghĩa là giác ngộ, nên gọi là Phật tánh; Niết bàn, Như Lai … tất cả tên gọi đều chẳng có tự tánh, chỉ do con người đặt ra mà thôi.
Hỏi: Tại sao gọi là giới tự động?
Đáp: Cũng như chúng ta tham thoại đầu, hễ giữ được nghi tình thì tự nhiên không phạm giới, nên gọi giới tự động.
Hỏi: Ngày 16/10/1986, con bế quan mười lăm tuần trong tuần thứ bảy, ngày thứ năm, sau khi điểm tâm buổi sáng, con lên bồ đoàn bắt đầu tham câu “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” vừa đề khởi xong là thoại đầu mất, cho đến năm giờ chiều con mới tỉnh lại. Sau mỗi lần tỉnh lại như thế, trong tâm con lại có một cuộc sống mới, cảm thấy an lạc, lặng lẽ. Lúc đó có thể đề khởi thoại đầu tham tiếp mà không bị gián đoạn. Vậy kính xin Sư phụ khai thị cho con.
Đáp: Cái đó người ta gọi là thiền định, thiền định cao nhất của cõi Trời Tứ không là tám muôn đại kiếp, rồi sáu muôn đại kiếp, bốn muôn đại kiếp … cũng chưa thể ra khỏi luân hồi. Tổ Sư Thiền không phải thiền định thường, Tổ Thiền chỉ cần cái ngộ, còn vấn đề định thì Lục Tổ nói là Na Già Định, tức lúc nào cũng định.
Pháp môn này là Pháp môn tâm địa, địa là đất, tâm mình cũng như trái đất mênh mông, tất cả nhà cửa cây cối đều ở trên trái đất này, cho đến cứt sình dơ bẩn cũng không chê, những gì thơm ngát cũng không mừng, vốn chẳng nhúc nhích lay động, cái gì cũng dung nạp được. Nếu tâm chúng ta có thể so bằng trái đất như thế thì sự tu mới là tiến bộ nhiều. Nay hãy so sánh xem, tâm mình có như đại không? Dù chỉ bằng một mảnh đất nhỏ, cũng là có ích cho xã hội.
Còn bây giờ dù được cái định một ngày nửa ngày, như có một vị nhập định bảy ngày, thầy y cho là kiến tánh, thật ra, định được tám muôn đại kiếp cũng còn chưa kiến tánh, vẫn phải đọa làm con chồn bay. Cho nên, dù sau khi thiền định ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng, nhưng nếu ham thích vào chỗ đó sẽ thành chướng ngại không thể giải thoát.
Hành giả tham thiền chỉ cần trong một sát na kiến tánh, ngoài ra bất cứ thấy cái gì đều là vọng, đều chỉ là cảm giác của bộ nẵo.
Hỏi: Đồng thời là pháp môn bất nhị, tại sao có vị lại nín, có vị lại nói? vậy có ý nghĩa gì?
Đáp: Nếu có ý nghĩa tức chẳng phải rồi, là hiểu theo bộ não. Chư Phật chư Tổ chỉ cần chúng ta ngộ, chứ không phải cần mình hiểu ý nghĩa, ngộ thì không có ý nghĩa. Như tôi thường nói về tánh không, vốn chẳng ý nghĩa gì hết. Bây giờ nói và nín đều lọt vào tứ cú, Đức Phật thì dạy mình phải lìa tứ cú.
Sư phụ giảng về Giới Bồ tát tại gia:
Theo Phật pháp đều phải có nhân duyên, quý vị hôm nay đến đây dự Thiền thất, nghe tôi giải đáp, người nào cũng có nhân duyên từ kiếp trước, hoặc nhiều kiếp trước, hoặc vô số kiếp trước, nếu không thì đã chẳng gặp nhau nơi chánh điện này. Như Kinh Kim Cang nói: “Chẳng phải một Phật, hai Phật, ba bốn năm sáu Phật gieo trồng thiện căn”, nên chúng ta phải có tự tin, chớ nói là tội nghiệp chướng nặng, không thể tu kiến tánh. Người nào cũng có thể tu kiến tánh, kiến tánh hay không chỉ tại mình chứ chẳng do người khác.
Nay tôi giảng về Giới Bồ tát tại gia:
Giới Bồ tát tại gia gồm 6 điều trọng, 28 điều khinh. Tất cả từ ngũ giới đến 250 giới, 348 giới cho đến Bồ tát giới, căn bản là sát, đạo, dâm, vọng, nhưng giới Bồ tát gọi là Giới tâm địa, khác hơn Giới Thanh văn, giới Thanh văn là khi thân làm rồi mới phạm, còn giới Bồ tát hễ khởi tâm động là phạm. Ví dụ:
Đối với giới Thanh văn, muốn ăn cắp cái tách này, tay đã chạm vào tách, gặp người vào liền rút tay lại, ấy là chưa phạm, khi nào lấy tách rời khỏi chỗ cũ là phạm, còn giới Bồ tát khởi niệm muốn ăn cắp đã là phạm rồi.
Thường thường, đối với tất cả giới có tám chữ: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”. Chư ác mạc tác là chỉ trì, tức không làm là trì giới; còn chúng thiện phụng hành là tác trì, tức phải làm, không làm là phạm. Giới Thanh văn là chỉ trì, giới Bồ tát là tác trì, có một số điều phải chúng thiện phụng hành, không làm là phạm.
6 điều trọng:
– Điều thứ nhất là sat sanh: Hễ khởi niệm muốn giết, giết người cho đến con kiến đều là phạm giới sát sanh, chưa giết đã phạm, cho đến tự tử cũng là phạm.
– Điều thứ hai là trộm cắp: Bất cứ đồ vật, tiền của, người chủ chưa đồng ý mà tự ý lấy đi là phạm. Trong gia đình, đồ vật của cha mẹ anh em sử dụng qua lại, đồng ý với nhau là không phạm, còn nếu chưa được sự đồng ý mà lấy đi, như ăn cắp tiền của cha mẹ, của anh ruột vẫn là phạm.
– Điều thứ ba là Đại vọng ngữ. Thế nào là đại vọng ngữ? Tu hành chưa chứng nói đã chứng, chưa đắc nói đã đắc, ấy là đại vọng ngữ.
– Điều thứ tư là tà dâm. Ngoài vợ chồng chính thức ra, mọi quan hệ nam nữ đều gọi là tà dâm.
– Điều thứ năm là nói lỗi của tứ chúng. Tứ chúng gồm hai chúng xuất gia, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, hai chúng tại gia Ưu bà tắc, Ưu bà di, tức cư sĩ đã thọ ngũ giới. Mặc dầu biết họ có lỗi, nhưng không được nói với người khác về lỗi lầm của họ. Nếu không có người thứ ba mà chỉ có người phạm lỗi, có thể khuyên bảo họ để sửa sai thì không phạm, nhưng nói với người thứ ba là phạm, hoặc lúc khuyên bảo có người thứ ba cũng là phạm.
– Điều thứ sáu là Bán rượu: Theo ngũ giới là uống rượu mới phạm, bán rượu không phạm, còn giới Bồ tát thì bán rượu phạm giới trọng, uống rượi chỉ phạm giới khinh. Tại sao? Vì bán rượu là hại đến người khác, đã thọ giới Bồ tát, hành đạo Bồ tát là hy sinh mình để cứu giúp người khác, nay chẳng những không cứu giúp người, vì lợi nhuận của mình lại gây hại đến người khác, nên thuộc giới trọng, còn uống rượu chỉ hại chính bản thân, nên thuộc giới khinh.
28 điều khinh:
1- Không cúng dường cha mẹ sư trưởng: Người tại gia, cha mẹ nuôi mình lớn lên, phải phụng dưỡng lại cha mẹ, còn sư trưởng dạy mình nên người, cũng nên cúng dường, nhưng vì người tại gia đi học có đóng học phí, cũng là cúng dường sư trưởng; hoặc tỏ lòng nhớ ơn sự dạy bảo của thầy cô mà cúng dường. Nếu mình không có tiền của cúng dường, chỉ phát tâm cúng dường cũng được.
2- Ham uống rượu: Ở trên điều thứ sáu bán rượu là phạm giới trọng, còn ở đây uống rượu là là phạm giới khinh.
3- Ác tâm không đi thăm người bệnh khổ: Như hiện nay trong các bệnh viện đầy bệnh khổ, làm sao thăm hết được? Những người bà con, bạn bè có quan hệ với mình là phải đi thăm, có khi vì không hay biết hoặc do cuộc sống khó khăn nên không thể đi thăm. Ở đây chú trọng hai chữ “ác tâm”, tức có dịp đi thăm mà cố ý không đi, gọi là ác tâm không đi thăm người bị bệnh khổ, là phạm.
4- Có người ăn xin đến xin mà không cho: Mình có thể cho nhiều cho ít tùy sức, trường hợp trong túi không có tiền, phát tâm muốn cho cũng được. Đối với người ăn xin đến xin mình, chẳng những không cho còn đuổi họ đi là phạm.
5- Gặp tứ chúng tôn trưởng, không lễ bái là phạm. Đó là điều lễ phép, hễ gặp là phải chào hỏi.
6- Thấy tứ chúng phá giới, dù không nói với người khác, nhưng nổi tâm khinh bỉ rằng: “Ông là Tỳ kheo, hoặc bà đã là Tỳ kheo ni còn phá giới, còn tôi chỉ là cư sĩ mà không phá giới”, nổi tâm kiêu mạn, cho rằng người khác phạm giới. Ai phạm giới thì người đó phải chịu tội, ví như Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo ni phạm giới Ba la di là chín triệu năm tội địa ngục, cấp thứ năm gọi là Đột Kiết La cũng phải chịu tội địa ngục mấy trăm ngàn năm, khỏi cần mình lo. Khỏi cần mình khinh, hễ nổi tâm khinh là phạm.
7- Đã thọ giới Bồ tát tại gia, hằng tháng phải thọ sáu ngày Bát quan trai, học tập cuộc sống của người xuất gia trong một ngày một đêm. Sáu ngày là : Mùng 8, 14, 15, 23, và 2 ngày cuối tháng. Bây giờ mình hành đạo Bồ tát, gọi là sơ học. Bồ tát chứ chẳng phải chứng quả Bồ tát, phải thọ giới Bát quan trai, nếu không đến chùa thì thọ ở nhà cnũg được.
8- Không đi nghe thuyết pháp: Tại sao không đi nghe thuyết pháp là phạm? Vì mục đích học theo hạnh Bồ tát là để giúp ích cho người khác, thực tế là phải cho người được giải thoát, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn, muốn như vậy phải dùng đến Phật pháp. Nếu tự mình không biết thì làm sao dạy người khác tu giải thoát? Cho nên, nghe chỗ nào có pháp sư thuyết pháp giảng kinh là phải đi nghe, để mình đủ tư cách hành đạo Bồ tát,. Trong này nói đến phạm vi 40 dặm, (10 dặm = 6km, 40 dặm là 24km).
9- Thọ dụng ngọa cụ của Tăng. Ở trong chùa, đồ dùng của Tỳ kheo, Tỳ kheo ni mà cư sĩ tại gia sử dụng là phạm, còn những gì dành cho cư sĩ tại gia thì không phạm. Phòng riêng của Tăng hoặc Ni, không được chủ đồng ý, tự ý đến ngồi hoặc nằm, tự ý thọ dụng là phạm.
10- Uống rượu có sâu tức sát sanh, là phạm. Bồ tát muốn cứu giúp chúng sinh nên phải tránh sát sanh, trong nước nếu có sâu bọ mà uống vào là phạm giới, nên Tăng Ni đi thọ giới có đem theo đãi lọc nước, trước khi dùng phải lọc qua thì không phạm.
11- Đi chỗ nguy hiểm: Bồ tát muốn cứu giúp người khác, hy sinh mình cũng được, nhưng nếu không có giá trị mà hy sinh thì không được, phải giữ thân này tu đến giải thoát và giúp cho người khác tu giải thoát. Nên cấm một mình đi đến chỗ nguy hiểm. Nếu biết chỗ đó nguy hiểm mà đi một mình thì phạm, có nhiều người cùng đi sẽ tránh được nguy hiểm.
12- Nam cư sĩ đi đến chùa Ni, hoặc nữ cư sĩ đi đến chùa Tăng, phải có hai người trở lên mới được, chứ một người là không được, là phạm.
13- Vi tài của mà đánh mắng người, như người giúp việc vô tình làm bể đồ vật của mình, do tiếc của mà đánh người; hoặc sai đi mua đồ làm mất tiền mà đánh, dù là đầy tớ hay người khác, hễ đánh mắng người vì tài của là phạm.
14- Đồ ăn mình ăn thừa không được đem bố thí cho tứ chúng, hễ bố thí đồ ăn thừa là phạm.
15- Không được nuôi mèo chó, vì những loại này hay sát sanh, mình nuôi chúng cũng như gián tiếp sát sanh, là phạm. Nuôi mèo thì phạm, nuôi trâu ngựa để làm việc cho chùa là không phạm, vì loại này ăn chay, nhưng phải qua tịnh thí. Thế nào là tịnh thí? Mặc dầu con trâu con ngựa là của mình, nhưng chỉ được quyền nuôi, không được đem cho hoặc bán cho người khác, tức thí cái chủ quyền của mình. Tại sao? Vì hễ đem cho người khác thì người ấy có thể bán hoặc giết hại con vật.
17- Tam điều y, ngũ điều y tức hạ y, bảy điều là trung y, chín điều đến hai mươi lăm điều trở lên là thượng y, đây là y của người xuất gia, ngoài ra còn có bát và tích trượng, người tại gia phải tích tụ những thứ này? Vì thọ giới Bồ tát là học theo hạnh Bồ tát, mục đích muốn mọi chúng sinh đều giải thoát, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn, không còn khổ nữa, nhưng trách nhiệm hoằng pháp là của người Tu sĩ, những đồ dùng này là của người Tu sĩ, vì khọ không có sản xuất, cư sĩ tại gia đã phát tâm Bồ tát, hằng ngày phải tích lũy, như hằng tháng dành dụm một trăm đồng, nếu không đủ sức có thể chỉ để dành mười đồng, hoặc một đồng … tùy theo sức mình, đến ngày chùa qui định phát y áo bình bát cho các Tu sĩ để thay cũ đổi mới, thì đem cúng dường cho chư Tăng Ni. Hàng năm, trong phái khất sĩ có hai đợt phát y và bình bát cho Tu sĩ, y áo của những ai đã cũ rách thì đăng ký với Trụ trì, Trụ trì thông báo đến cư sĩ đã có tích lũy để dành, đến ngày đó đem cúng dường và Trụ trì sẽ gom lại phát cho đại chúng.
18- Tại gia phải sản xuất hoặc canh tác, khi canh tác thì dưới đất có sâu bọ, cày cuốc khó tránh khỏi giết hại chúng sinh, cho nên hễ làm ruộng phải tìm chỗ nước đất trong sạch mới canh tác, nhưng điều này rất khó tránh. Tiểu thừa đã chứng quả Tu đà hoàn thì các sâu bọ tự nhiên tránh được, không bị lỗi sát sanh. Cũng như quý vị tham thiền đến một lúc nào đạt mức của Tu đà hoàn, thì việc canh tác sẽ tránh được sát hại các loài sâu bọ.
19- Tại gia không sản xuất thì buôn bán, việc buôn bán đó phải công bằng, cân đong đo đếm phải đúng lượng. Nhiều người buôn bán không đúng lượng, cân 1kg, chỉ còn 950gr, ấy là phạm. Lại nữa, ví như món đồ này giá thị trường chỉ bán 100 đồng, mình đã bán ra, dù người mua chưa lấy hàng, sau đó nghe nói thị trường đã bán với giá 200 đồng, muốn đổi ý bán theo giá mới là không được, đã hứa gía bao nhiêu thì bán bấy nhiêu, không được thay đổi, và bán đúng theo giá thị trường, không tự ý nâng giá là không phạm.
20- Cư sĩ tại gia với vợ chồng chính tức không phạm giới tà dâm, nhưng nếu phi thời phi xứ, tức không phải lúc và không đúng chỗ ở của mình là phạm. (Phi thời: các ngày chay, vía Phật. Phi xứ: Trừ phòng ngủ riêng, năm nữ căn).
21- Buôn lậu là phạm. Theo giới luật nhà Phật là không được vi phạm pháp luật nhà nước. Vì Đức Phật muốn hoằng dương Phật pháp, khiến ai ai cũng được giải thoát, do đó bất cứ nước nào đều được chính phủ sở tại hoan nghênh, nên Phật tử phải giữ đúng luật pháp nhà nước. Trong này có nói đến vấn đề nộp thuế, hoặc ăn cắp thuế của nhà nước: Luật sư Hoằng Nhất có nói: “Người muốn gởi tiền qua Bưu điện phải đóng chi phí gởi, có người không muốn gởi qua Bưu điện mà đem tiền bỏ vào phong bì gởi đi, ấy cũng là một hình thức ăn ắp thuế của nhà nước, là phạm giới.
22- Điều này càng nói rõ: Hễ phạm luật pháp của nhà nước, bất cứ phạm phải lỗi gì, tức là phạm giới.
23- Khi trồng trọt có thu hoạch rồi, lần thu hoạch đầu tiên phải đem cúng dường Tam Bảo, sau đó mới tự dùng. Ấy là để tập cho chúng ta luôn biết kính trọng Tam Bảo, nếu không là phạm.
24- Mặc dầu mình là cư sĩ tại gia, có thể thuyết pháp dạy người khác tu hành, nhưng nếu Tăng đoàn thấy mình chưa đủ trình độ tư cách, không cho đi thuyết pháp, mà tự làm tài khôn, thuyết pháp là phạm.
25- Khi ra ngoài đường, cư sĩ tại gia luôn tránh đường cho năm chúng xuất gia, tức Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa, Sa di, Sa di ni. Nếu chúng ta đi mà không biết có năm chúng đi sau lưng, sau khi phát giác phải đứng sang một bên, nhường cho Tu sĩ đi trước, nếu không là phạm.
26- Khi thọ trai quá đường, mình phân chia thức ăn phải công bằng, nếu chia không công bằng hoặc chia theo tình cảm yêu ghét, hoặc lựa những thức ăn ngon cho người mình ưa thích, chia thức ăn không ngon cho người mình không ưa thích, ấy là phạm.
27- Nuôi con tằm là phạm: vì muốn lấy tơ tằm phải giết chết nó, nên phạm.
28- Khi đi ngoài đường, thấy có người bệnh nặng mà bỏ đi là phạm. Ví như đang đi trên tàu xe, ra đến ngoại ô chỗ vắng người, thấy ở giữa đường có người bệnh nặng hoặc bị thương nặng không ai cứu giúp, phải bỏ vé xe, xuống cứu giúp người đó, hoặc chở đi bệnh viện, hoặc đưa về tận nhà, giao tận nơi xong mới trở lại mua vé đi tiếp. Nếu thấy mà bỏ đi không cứu giúp là phạm, tức phải làm là không phạm, goi là tác trì.
Hỏi: Trong các kinh thường nói tức định tức huệ, định huệ đẳng trì, còn tham thiền thì chú trọng nghi tình, vậy định huệ với nghi tình đồng hay khác?
Đáp: nghi tình là cách thực hành để đi đến kiến tánh, còn định huệ là ở trong tự tánh sẵn sàng, là thể dụng của tự tánh, kiến tánh hay chưa kiến tánh đều sẵn có định huệ. Tự tánh bất nhị, tất cả đều chẳng khác, chẳng những pháp xuất thế gian, pháp thế gian cũng vậy. Nếu đã kiến tánh thì tất cả đều là tuyệt đối, nay chưa kiến tánh, dùng vọng tâm phân biệt thì có đủ thứ sai biệt.
Hỏi: Thế nào gọi là chơn tham?
Đáp: Lai Quả Thiền sư nói “Vô tham mới là chơn tham”. Vô tham chẳng phải là không có tham, mà là tham thiền đến không biết mình đang tham, vì pháp môn này là dùng cái không biết để tu, đến lúc luôn cả tham thiền cũng không biết, mới gọi là chơn tham.
Hỏi: Thiền sư Pháp Loa dòng Trúc Lâm dạy: “Pháp chơn là y theo giới pháp tiến tu, còn pháp ngụy là bàn luận ngoại đạo, suy đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ rồi truyền trao cho nhau”, vậy ý nghĩa này như thế nào?
Đáp: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Vì muốn hiển bày cái chơn mới nói là vọng, mà chơn với vọng thật sự là hai thứ vọng”. Tại sao? Vì còn đối đãi, là nhị, tự tâm bất nhị, không đối đãi. Nay muốn hiển bày cái chơn thì lập cái vọng, muốn hiển bày cái vọng thì lập chơn, ở trong thực tế, chỗ bổn lai của tâm vốn chẳng có chơn vọng, do đó, nếu có chơn có vọng thì hai thứ đều là vọng; tại có kiến lập chơn thì chơn cũng là vọng, chứ chẳng phải chỉ có vọng mới là vọng.
Các tôn giáo khác kiến lập chơn lý, các giáo chủ cũng do ngồi thiền ngộ được chơn lý, rồi tự làm giáo chủ để hoằng dương chơn lý của mình ngộ được, còn Phật Giáo, Phật Thích Ca là giác ngộ cái tâm chứ chẳng phải giác ngộ chơn lý. Nay nói chơn lý thì cái tâm tức chơn lý, nhưng cái tâm không có kiến lập, vì nó vốn là vô sanh, vốn là vô thỉ, không có sự bắt đầu, không có bắt đầu thì không có kiến lập, nên người ngộ pháp gọi là ngộ pháp vô sanh, chứng ngộ là chứng vô sanh pháp nhẫn, tức chứng thực tất cả pháp đều không có sanh khởi.

Quý vị có thể để lại nhận xét, ý kiến hoặc lời nhắn tại ô này. Thanh Tịnh Lưu Ly xin thành kính tri ân và ghi nhận mọi đóng góp ý kiến từ quý vị

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s