DUY LỰC NGỮ LỤC: QUYỂN HẠ – PHẦN 17

DUY LỰC NGỮ LỤC
QUYỂN HẠ
(Bài giảng trong các năm (1992 – 1999)
HT. THÍCH DUY LỰC
—-o0o—

Bài giảng trong các năm 1992 – 1999
17.
15/05/95 – 21/05/95 tại Chùa Từ Ân, quận.11
Hỏi: Thế nào là chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác?
Đáp: Pháp môn Tổ Sư Thiền cần giữ nghi tình, chỗ thoại đầu là không không biết, nếu giải thích là biết rồi, làm sao tu? Câu “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác” là ở trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Ở nước Mỹ, có một cô Phật tử xem Kinh Pháp Bảo Đàn đến chỗ này, cô ấy đem “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang lúc đó thế nào là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh” thay vào tên mình và hỏi mãi như vậy trong một tháng, căn bệnh lâu năm của cô chữa trị cả Đông Tây y đều không khỏi tự nhiên được hết. Lúc đó cô ây chưa biết tôi, sau mới tìm đến Thiền đường gặp tôi.
Hỏi: Trước đây con tu theo thập thiện, nay chuyển qua Tổ Sư Thiền cần tiếp tục tu thập thiện không?
Đáp: Cảnh giới cao nhất của thập thiện là được sanh cõi Trời, kế đó là sanh vào cõi Ngưòi và cõi A tu la, thuộc tam thiên đạo, còn tập ác nặng nhất là Địa ngục, nhẹ hơn là Ngạ qủy, rồi Súc sinh, thuộc tam ác đạo. Mặc dầu được sanh thiện đạo, nhưng vẫn còn ở trong luân hồi, chẳng thể giải thoát. Muốn giải thoát phải tu một pháp môn nào đó, ngộ được bản tâm rồi, gọi là kiến tánh thành Phật mới giải thoát được.
Hỏi: Vậy tham Tổ Sư Thiền có thể đưa đến nhất tâm bất loạn không?
Đáp: Nhất tâm bất loạn không phải mục đích của tham thiền. Tham thiền là muốn kiến tánh thành Phật, đạt đến giải thoát, còn nhất tâm bất loạn chưa thể đạt đến giải thoát, chỉ là vọng tưởng không nổi lên thôi. Dẫu cho dẹp hết tất cả vọng tưởng, cũng chỉ là vô thỉ vô minh, còn nằm trong vô minh.
Tịnh độ nói tu đến nhất tâm bất loạn là được vãng sanh, nhưng nếu tu không đúng tông chỉ của Tịnh độ thì dù nhất tâm bất loạn cũng không được vãng sanh, vì nhất tâm bất loạn chỉ là đè nén vọng tưởng thôi. Tham thiền chỉ cần giữ được nghi tình không biết thì những thứ kia tự động dẹp hết.
Hỏi: Kính bạch Sư phụ, vì công việc và đời sống khiến con bị gián đoạn công phu, nên sáng nay con đã từ giã vợ con, quyết lên núi để tu cho đến nơi đến chốn, nhưng được thầy Quảng Trọng giới thiệu con về chùa Tam Bảo, con đã thu dọn hành trang đi xuống đó tu và muốn xin xuất gia.
Đáp: Ông nói đã tin Phật tánh không giảm bớt, không gián đoạn, thì còn lo gì nữa, còn đi tìm gì nữa? Làm nghề xích lô cứ làm, đạp xích lô cũng đầy đủ Phật tánh, đâu có gián đoạn! Tại ông không tin, hoặc tin chưa đầy đủ mới đi chỗ khác tìm, tính toán xuất gia. Nếu có nhân duyên thì tự nhiên sẽ có dịp đi đến xuất gia, nếu không cứ làm nghề cũ, đạp xích lô cũng kiến tánh thành Phật vậy, đâu nhất thiết phải đi xuất gia hoặc đi lên núi!
Đã nói cuộc sống hằng ngày là sự tu, từ ăn cơm mặc áo, nói năng tiếp khách v.v… cho đến đạp xích lô cũng là đang tu, nếu đã tin Phật tánh đầy đủ thì đâu cần lo gì nữa? Chỉ là phát hiện cái của mình sẵn có thôi, tu đến đâu phát hiện đến đó, bởi vì sẵn có mà!
Hỏi: Không biết con có nghiệp chướng gì, khi đề câu thoại đầu lên nó cứ từng mảng ép đầu và ngực con đau quá chịu không nổi, mới tu có một chút còn hơn đạp xích lô mấy năm, suy nghĩ qua việc khác thì không sao, hễ tham vô là đầu con giựt lên, tham nhanh giựt nhanh, muốn dừng lại cũng không được.
Đáp: Tôi đã nói là đừng ra sức, tham thiền ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy, chỉ cần công phu miên mật liên tiếp, khỏi cần tập trung tinh thần, khỏi cần cố gắng ra sức. Nếu chẳng ra sức thì không bị những thứ đó.
Hỏi: Nếu tham như Sư phụ nói thì chừng nào mới đến?
Đáp: Đã nói nghi tình là dùng cái không biết để tu, đã không biết thì đâu cần biết tới những gì xảy ra? Do ông còn có cái biết, nay cần giữ cái không biết là đủ. Muốn giữ được phải nhìn chỗ không biết, nhìn chỗ chưa có niệm nổi lên, tức năng biết sở biết đều không có.
Hỏi: Vậy khi con ngồi nó cứ lắc cái thân, muốn dừng lại cũng không được?
Đáp: Lắc cứ cho nó lắc, đừng có dừng; cái lắc đó là do cơ thể vận động, có ích cho sức khỏe. Nếu trong cơ thể có bệnh, lắc riết nó hết bệnh luôn, chớ có kềm chế, kềm là có hại.
Hỏi: Trước khi con học theo pháp môn niệm Phật của Hòa thượng Trí Tịnh, thấy căn cơ của con thích hợp tu theo pháp đó, nhưng bây giờ biết được pháp môn tham Tổ Sư Thiền, vậy con có thể hành theo pháp này được không?
Đáp: Muốn theo pháp nào cũng được.
Hỏi: Hòa thượng Trí Tịnh nói “Pháp môn niệm Phật là pháp môn thiền Tam muội?”
Đáp: Tam muội là tiếng Ấn Độ, dịch là chánh định. Pháp Thiền nào đếu có thể đạt đến chánh định, ngoại trừ những pháp thiền không phá ngã chấp là chẳng thể đạt được mà thôi.
Tổ Sư Thiền khác hơn tất cả pháp thiền khác; các pháp thiền khác chú trọng ngồi và quán tưởng, có năng quán sở quán. Chỉ có Tổ Sư Thiền không chú trọng ngồi và chẳng năng quán sở quán, chỉ là giữ nghi tình, dùng cái không biết để tu, rất đơn giản.
Hỏi: Con nghe các thầy nói: “Người nữ tu hành phải đợi khi chuyển thành thân nam mới có thể kiến tánh”, phải vậy không?
Đáp: Đó là lời nói của những vị tu theo Tiểu thừa, còn Đại thừa thì chẳng phải vậy. Trong lịch sử Thiền Tông, người nữ kiến tánh rất nhiều, như tôi đã kể trong cuốn Đường lối thực hành tham Tổ Sư Thiền. Trong Kinh Pháp Hoa, Long nữ tám tuổi thành Phật; ngoài ra còn có một bé gái họ Trịnh, mười ba tuổi kiến tánh, người đời gọi là “Trịnh mười ba”. Một cô họ Tô, mười lăm tuổi kiến tánh, là cháu gái của Thừa tướng Tô Công Tụng. Cô này sau là Diệu Tổng Thiền sư, được Tỉnh trưởng mời về chùa làm chức Trụ trì.
Hỏi: Sư phụ nói “Quên là điều tốt”, nhưng nhiều lúc niệm Phật, con quên phiền não, quên luôn cả những gì trong cuộc sống hằng ngày, quên đường về nhà … con rất sợ vì trước khi mẹ con qua đời, mẹ cũng quên đến nỗi không còn biết tên con cái …
Đáp: Tôi nói “Quên là tiến bộ” là đối với pháp môn Tổ Sư Thiền, vì pháp này dùng cái không biết để tu, hành giả Tổ Sư Thiền khi giữ được nghi tình rồi có quên là tiến bộ, còn mấy pháp khác đều không phải. Ví như niệm Phật là dùng cái biết để tu thì quên là có hại, chứ chẳng phải là tiến bộ, còn đối với người bệnh tâm thần thì cái quên ấy là bệnh!
Hỏi: Làm thế nào để ra khỏi phân biệt?
Đáp: Giữ được nghi tình là không có phân biệt, vì phân biệt là biết, nghi tình thì không biết, đã không biết làm sao phân biệt!
Hỏi: Ví như có cái “không biết” cũng là có vậy?
Đáp: Chẳng biết “có” thì chẳng phải có, chẳng biết “không” thì chẳng phải không. Do ông dùng cái tâm chấp thật, nên nói đến đâu cũng là có hoặc không, hoặc chẳng có chẳng không, cũng có cũng không, đều là lọt vào tứ cú. Cái không biết này chỉ là công cụ đưa mình đến chỗ kiến tánh thành Phật, chứ chẳng phải là không biết mãi. Lại nữa, cái không biết này là không biết sống, khác với không biết của người ngủ mê, chết giấc, bệnh tâm thần … ấy là cái không biết chết.
Hỏi: Sư phụ thường nhắc đến câu “Nhất thiết duy tâm tạo”, xin hỏi tâm nào tạo?
Đáp: Ông có bao nhiêu tâm?
Hỏi: Con muốn biết là chơn tâm hay vọng tâm?
Đáp: Nói chơn tâm và vọng tâm là hai, tự tánh bất nhị, chẳng có hai. Nói “tâm tạo” cũng chỉ là phương tiện thôi, như công án của Tổ Đạt Ma truyền pháp cho ngài Huệ Khả:
Huệ Khả nói: Tâm của con bất an, xin thầy an tâm cho.
– Đem tâm đến Thầy an cho!
– Tìm tâm không được.
– Đã an tâm rồi đó!
Tâm còn tìm không được, làm sao có chơn và vọng? Huệ Khả liền ngộ được nên kiến tánh thành Phật, hễ chấp thì đâu thể kiến tánh! Bệnh của chúng sinh chỉ là bệnh chấp mà thôi, lời dạy của chư Phật chư Tổ cũng chỉ là phương tiện tạm thời, chẳng phải có thật. Nay chúng ta cho nghiệp thức, phiền não, nghiệp chứng, tham sân si là vọng tâm, là trói buộc, cho Bồ đề, Niết bàn là chơn tâm, mà chẳng biết Bồ đề, giải thoát, Niết bàn cũng là trói buộc, là xiềng xích bằng vàng. Những trói buộc bằng sợi dây còn dễ cắt đứt, cái làm bằng vàng mới khó cắt đứt, trói chặt mình không giải thoát được. Muốn tự do tự tại, phải cắt đứt tất cả xiềng xích, dù là bằng vàng cũng không thèm.
Hỏi: vạn vật có phải hoa đốm trên hư không chăng?
Đáp: Tất cả chỉ là phương tiện để thí dụ, nói hoa đốm cũng vậy. Nếu chấp thật có hoa đốm cũng như Kinh nói: “Hãy đợi hoa đốm kết thành quả”, việc đó vốn là chẳng có mà!
Hỏi: Nhân chi sơ, tánh bổn thiện, con người mới lọt lòng mẹ là không biết, vậy so với pháp tu của Hòa thượng dạy thì như thế nào?
Đáp: Nhân chi sơ, tánh bổn thiện là lời của nhà Nho, Tổ Sư Thiền là lời của nhà Phật. Nhà Nho có tư tưởng chấp thật, còn nhà Phật là phá chấp thật. Nhà Nho chấp có nhân chi sơ thật, nhà Phật thì nói vô thỉ, chẳng những con người không có bắt đầu, vũ trụ vạn vật đều không có bắt đầu. Lại nữa, nói là tánh bổn thiện, nếu vốn là thiện thì không thể biến thành ác, sao lại có thể biến thành ác?
Thiện với ác là tương đối. Lục Tổ nói: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang lúc đó thế nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa minh?” Hễ nghiêng về bên thiện cũng bị dính mắc, nghiêng về bên ác cũng bị dính mắc, nhà Phật nói không thiện ác, không tương đối; mặc dầu không tương đối, nhưng chẳng phải bảo ta đừng làm thiện hoặc đi làm ác.
Thật ra, đứa bé mới sinh đã biết khóc, biết người ta thương, đòi người ta ẵm, nếu người lớn không ẵm là khóc, khi đói biết đòi ăn, mặc dầu chưa biết nói, nhưng biết dùng tiếng khóc để bày tỏ, sao nói là không biết!
Hỏi: Cái tâm, cái thức, cái tưởng, nó giống nhau hay khác?
Đáp: Tưởng, là tư tưởng, tức sự suy nghĩ. Suy nghĩ, cảm giác, tánh thấy, tánh nghe đều là cái dụng của tâm linh, nhưng bản thể của tâm linh chẳng hình thể số lượng, dùng sự thấy nghe chẳng thể tiếp xúc được.
Tư tưởng, văn tự, lời nói, tên gọi dù có ba nhưng sự dụng chỉ là một: Lời nói là văn tự có tiếng, văn tự là lời nói có hình, tư tưởng là lời nói không hình không tiếng. Do tư tưởng nhận biết được, nói ra miệng thành lời nói, viết ra thành văn tự, còn có những cái không thể dùng tư tưởng, lời nói, văn tự để nhận thức và diễn tả: Đó là thực thể của tâm linh, nhưng sự dụng của nó rõ ràng trước mắt, sở dĩ chúng ta thấy nghe được đều nhờ vào sức dụng của tâm linh.
Hỏi: Có phải Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ám chỉ về trí tuệ, còn Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát chỉ về cái hạnh, cởi con trâu trắng tượng trưng cho sự trong sạch?
Đáp: Không phải. Những thứ ông vừa nói là cách nói của pháp sư bên Giáo môn, còn nói về cái thực tế thì chẳng có gì để thí dụ được. Thực thể của tâm linh muốn nhận biết còn không được, lấy gì để thí dụ? Gọi là thật tướng vô tướng, không có tướng mới gọi là thật tướng, Kinh Kim Cang nói: “Nếu thấy tất cả tướng đều phi tướng mới thấy Như Lai”. Như Lai là thật tướng đó, nếu dùng tư tưởng chấp thật để diễn tả đều không đúng.
Hỏi: Khi có người thân lâm chung, bên Tổ Sư Thiền phải làm sao?
Đáp: Chẳng làm sao cả. Nếu muốn chiếu theo truyền thống đã quen thì tụng kinh cũng được, hễ tự mình làm chủ được thì không tụng kinh cũng được; hoặc mời các bạn đồng tham tụ nhau tham thiền cũng được, tức chẳng có sự cố định.
Hồi thời Phật Thích Ca chưa có kinh, lấy gì để tụng? Sau khi Phật nhập diệt, do Tôn giả A nan kết tập lại mới thành kinh. Lại nữa, mục đích tụng kinh cho người chết để làm gì? Nếu trong kinh có công năng siêu thoát cho người thì không có nhân quả: vì nếu người quá cố đã tạo nghiệp ác, phải đầu thai tam ác đạo để trả quả, mời thầy tụng kinh liền có thể siêu thoát thì làm ác cũng chẳng sao, có phải vậy không?
Kinh Phật chỉ để dạy người tu hành, giải thoát khổ vĩnh viễn, muốn làm chủ cho mình, được tự do tự tại phải giác ngộ. Nếu chúng ta không chịu thực hành, cứ không ăn cơm thì làm sao được no!
Hỏi: Thế nào là y báo và chánh báo?
Đáp: Chánh báo, y báo là tùy theo nghiệp nhân của mình đáp lại quả báo. Hành động và tư tưởng của mình làm thiện thì tạo thiện nghiệp, làm ác tạo ác nghiệp, có nghiệp nhân ắt có nghiệp quả: Thân hiện nay của chúng ta là nghiệp quả của nghiệp nhân kiếp trước, gọi là báo thân.
Trong kinh Phật nói đến tam thân: Pháp thân, hóa thân và báo thân. Báo thân này là chánh báo, tức do mình có cái nghiệp nhân, thành quả báo được cái thân này, hoặc thân con trai, hoặc thân con gái, cho đến ngu si, trí huệ, giàu sang, nghèo khổ …
Tất cả vạn vật trong vũ trụ để cho thân thọ dụng gọi là y báo, như thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở … cung cấp cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta, tức mọi sự đi đứng nằm ngồi để nuôi dưỡng cái chánh báo này gọi là y báo.
Hỏi: Đến chơn tham như thế nào?
Đáp: Ngài Lai Quả nói “Vô tham mới chơn tham”, tham thiền mà không biết mình đang tham gọi là chơn tham, tức giữ được nghi tình kéo dài mãi không gián đoạn, tự nhiên đạt đến chơn tham, hễ còn nổi lên cái biết, sự nghiệp và sự biết xen lộn hoài, sát na thay đổi, còn kẽ hở thì chưa phải chơn tham. Thường thường chơn tham là đến thoại đầu, tức 24/24 giờ không gián đoạn, chẳng có cái biết nào nổi lên.
Hỏi: Chúng con nhập thất liên tục bảy ngày, mỗi ngày chỉ niệm Phật, không ăn, chỉ uống nước hai lít, vậy có tu đúng chánh pháp không?
Đáp: Nhịn ăn để làm gì? Nếu để trị bệnh thì không phải Phật pháp. Phật pháp cũng không dạy người nhịn ăn cho là tu. Cũng có người không hiểu, thực hành theo ngạ thất, tức nhịn ăn bảy ngày, ấy là theo tà pháp, chẳng phải Phật pháp, chẳng thể giải thoát được. Tổ Sư Thiền không phải vậy, Như Lai Thiền cũng không phải vậy.
Hỏi: Con đã thọ giới Bồ tát tại gia, khi đi đám ma có thể lạy vong linh không?
Đáp: Thọ giới Bồ tát chưa phải đã thành Bồ tát, dù đã thành Bồ tát vẫn có thể lạy được. Chúng sinh bình đẳng chẳng cao thấp, chứ không phải mới thọ giới Bồ tát rồi cho mình cao hơn là không được.
Hỏi: Những phát minh khoa học là do trí hay do thức?
Đáp: Do thức. Phàm do bộ não nghiên cứu tìm hiểu đều là thức.
Hỏi: Tất cả việc ở ngoài đời là do trí của bộ não tạo chứ đâu phải do tâm linh, phải không?
Đáp: Bộ não cũng do nghiệp nhân tạo thành, có tâm linh mới có thể sanh ra nghiệp nhân. Tất cả đều do tâm linh mới có, nên nói “Nhất thiết duy tâm tạo”.
Do đủ thứ nghiệp nhân mới tạo thành thân người, nghiệp của con người có bộ não, cũng như nghiệp của con dơi có rađa. Tâm linh là chủ của sinh mạng, trong cuộc sống hằng ngày mắt thấy tai nghe đều là sức dụng của tâm linh, là tùy nghiệp hiển dụng.
Trong tâm linh của chúng ta sẵn đủ tất cả, nay nhà khoa học cứ phát minh những khoa học mới và tiến bộ mãi, những cái đó ở trong tâm linh của mình đã sẵn, chứ chẳng phải nhờ học hỏi rồi mới phát minh. Ví dụ: Nhà khoa học nghiên cứu con dơi rồi phát minh ra rađa, nhưng nghiệp của con dơi khi sinh ra đã sẵn có rađa; Nhà khoa học bắt chước sự cấu tạo của bộ não phát minh máy vi tính, ấy là nghiệp của con người sẵn có …
Bất cứ những gì có trong nghiệp đều đã sẵn trong tâm linh mình, chẳng phải do học. Cho nên, khoa học mới có tiến bộ, còn tâm linh thì không, vì từ hồi nào đã sẵn có rồi.
Thời xưa chưa phát minh kính hiển vi, Đức Phật đã biết có vi trùng. Lại nữa, Phật nói tất cả đều bất sanh bất diệt, là Niết bàn, đến thế kỷ thứ XIX, nhà khoa học mới phát hiện rằng tất cả vật chất năng lượng đều bất sanh bất diệt. Mặc dầu khoa học chưa chứng minh nhưng trong tâm linh đã sẵn, cái học đó chẳng dính dáng đến cái sẵn có, nếu chúng ta tu đến tất cả chấp thật đều không thì cái đã sẵn có ấy sẽ hiện ra bằng Phật.
Ví dụ: theo sự nhận biết của khoa học, tốc độ ánh sáng là nhanh nhất, nhưng những nhà khí công, người có công năng đặc dị đã chứng tỏ so với tốc độ của tâm linh thì tốc độ ánh sáng lại là tốc độ thấp nhất! Giả sử một máy bay bằng tốc độ ánh sáng bay từ quả đất đến một hành tinh khác, như Hải Vương tinh chẳng hạn, phải trải qua mấy trăm quang niên (tốc độ ánh sáng trong một giây là ba trăm ngàn dặm), trong khi tâm linh mình một niệm liền đến, chẳng có số lượng về thời gian!
Do đó, những gì học được đâu thể so bằng tâm linh sẵn có! Còn sự tu có thể khiến tâm linh chúng ta hiện ra nhiều sức dụng, như những người có công năng đặc dị, người có năng khiếu đặc biệt v.v…
Hỏi: Thế nào là trái ngược hiện nghiệp?
Đáp: Ai cũng biết về nghiệp, nay muốn sửa lại nghiệp của mình thì phải làm trái với nghiệp. Hễ kiếp trước tạo nghiệp nhân xấu thì kiếp này phải làm ngược lại; như trước kia ham thích thì nay không ham thích nữa, chê ghét cũng vậy, tức bất cứ muốn nổi một tâm niệm nào đều phải làm ngược lại.
Bởi do tâm suy nghĩ rồi hành theo sự suy nghĩ đó, mới thành cái nghiệp: Kiếp trước tạo thành nghiệp kiếp này, kiếp này tạo nghiệp kiếp sau … cứ xoay chuyển mãi trong luân hồi, nay muốn chấm dứt luân hồi, phải sửa lại nghiệp của mình.
Hiện nghiệp là chấp thật, muốn trái ngược hiện nghiệp phải phá chấp thật, như tham thoại đầu là không hiểu không biết, không biết cái xấu thì không chê, chỉ cần giữ được cái không biết là có thể trái ngược hiện nghiệp.
Hỏi: Đức Phật dạy ngồi theo kiểu kiết già có tác dụng và hữu ích gì?
Đáp: cách ngồi theo kiết già không phải do Phật dạy, hồi chưa có Phật Thích Ca, các tôn giáo khác đã ngồi theo kiểu kiết già, vì ngồi như thế có thể ngồi lâu được, có nhiều người ngồi nhập định đến khi chứng quả A la hán, trải qua mấy trăm năm, mấy ngàn năm.
Hỏi: Giả sử có một kẻ quá ác, có khả năng giết hại nhiều người, và có một người khác giết kẻ này để giải cứu bao nhiêu người kia; giữa họ chẳng có thù hằn cá nhân nào, chỉ vì muốn cứu đại chúng nên buộc lòng phải ra tay giết kẻ ác kia, vậy trường hợp đó nhân quả ra sao?
Đáp: Giết người phải thường mạng, nhưng nếu người đó chẳng ác ý, chỉ vì muốn cứu người, tâm không tạo nghiệp thì không có. Nếu có khởi tâm giết hại là có tạo nhân, có nghiệp nhân ắt có nghiệp quả, còn những người do chức trách như nhà cầm quyền, dù đã thọ giới Bồ tát, vì trách nhiệm của mình phải xử tử người khác, cũng như giết một người để cảnh cáo nhiều người thì không bị luật nhân quả, vì thuhi theo đúng pháp luật nhà nước qui định. Vấn đề này trong Hư Vân Niên Phổ có đề cập.
Trong giới luật của nhà Phật có qui định: Hễ phạm luật pháp nhà nước là phạm giới luật nhà Phật. (Sư phụ đã kể về sự giữ giới của Luật sư Hoằng Nhất, lược qua).
Hỏi: Còn những người cướp của nhà giàu rồi đem phân phát cho người nghèo thì nhân quả ra sao?
Đáp: Đó cũng là phạm tội, không những vi phạm luật pháp nhà nước, cũng vi phạm giới luật nhà Phật về tội trộm cắp.
Hỏi: Tu ở trong chúng và đến dự thiền thất có ích lợi gì?
Đáp: Đả thiền thất, tụ đông để tu, làm trợ duyên với nhau khiến tâm lực mạnh, ví như ánh sáng đèn: Một cây đèn thì ánh sáng yếu, mười cây đèn ánh sáng mạnh hơn, một trăm cây đèn ánh sáng càng mạnh. Như tôi thường nói, mỗi mỗi đều có cái tâm, nếu một trăm người cùng chung một tâm tham thiền thì sức dụng kích thích khiến tâm tu được mạnh hơn.
Nhưng mặc dầu tu một mình ở nhà, đã phát tâm rồi thì ở đâu cũng vậy, tức là nếu có nhiều bạn đồng tham tu chung càng tốt, nếu không thì tu một mình cũng được, tùy theo nhân duyên. Nay tạo đủ mọi nhân duyên giúp cho đại chúng tu được mau kiến tánh, cũng như giúp mình vậy, người khác cũng giúp lại cho mình mau kiến tánh, ấy cũng là phước báu của mình gieo trồng từ kiếp trước, nhưng đừng có tâm ỷ lại, phải tận sức của mình mà tùy duyên tham tới mãi.
Hỏi: Con thấy tu một mình ở cốc riêng dễ sinh ra giải đãi, nhiều khi khuya thức không nổi, rồi cho là mình có bệnh, đợi ngủ đến sáng rồi mới tu.
Đáp: Cho nên ngài Lai Quả khuyên mọi người nên tu trong Tòng lâm, ở chùa nhiều người tu chung có công hiệu hơn, có sức mạnh hơn.
Hỏi: Người đã chứng ngộ rồi, tự tâm hiện lên đầy đủ sẵn sàng những trí huệ thần thông biến hóa, tại sao Sư phụ lại nói ngộ ròi đồng như chưa ngộ?
Đáp: Tâm linh của mọi người đều giống nhau, đều đầy đủ tất cả thần thông trí huệ năng lực, sở dĩ chưa dùng ra được là bởi có tâm chấp, nếu ngộ rồi chấp vào sự ngộ vẫn là chấp. Người đã ngộ thật sự thì đồng như chưa ngộ, tức chẳng chấp vào sự ngộ, tất cả diệu dụng mới hiện ra được. Hễ còn chấp cái ngộ là còn chướng ngại.
Hỏi: Làm sao biết mình có chấp vào cái ngộ đó hay không?
Đáp: Cho mình có ngộ đó! Nếu không cho là mình có sự ngộ thì ngộ rồi đồng như chưa ngộ.
Hỏi: Chúng con là Phật tử ở Vũng Tàu, theo chúng con biết, mỗi lần Sư phụ đến Vũng Tàu đều ở tại chùa Từ Quang, và đó không phải thuộc hẳn pháp môn tham Tổ Sư Thiền, nên một số Phật tử chúng con muốn thành lập một chùa, một Thiền đường riêng thuộc môn phái Tổ Sư Thiền ở Vũng Tàu. Kính xin ý kiến của Sư phụ?
Đáp: Ở Vũng Tàu, nhiều vị cũng muốn cúng dường đất đai, chùa chiền cho tôi, chỗ thì hai – ba mẫu, chỗ thì một mẫu rưỡi … hiện nay đất đai rất có giá, nhưng tôi không nhận, kể cả cúng dường chùa cũng không nhận, vì tìm người quản lý rất khó, cái ngã, mỗi người đều có, rồi từ cái ngã đó sinh ra sự tranh chấp. Hiện nay có một số chùa, vị Trụ trì sáng lập ra ngôi chùa, sự nghiệp lớn lao, đến tuổi già tịch đi, rồi đệ tử tranh giành tài sản với nhau, nên tôi không muốn lập bất cứ ngôi chùa nào, hễ người nào có duyên với pháp thì tu, không có duyên thì thôi vậy.
Hỏi: Tu Tổ Sư Thiền có cần Lục độ không?
Đáp: Tham thiền là pháp thiền trực tiếp do Phật Thích Ca thân truyền, đã bao gồm tất cả, không cần học thêm nữa.
03/06/1995 -09/06/1995 tại Chùa Từ Ân, quận.11
Hỏi: Chúng con đi đường, gặp tiền của người khác đánh rơi mà lượm lên, thì có phạm giới trộm cắp không?
Đáp: Tiền của người khác là có chủ, hễ lấy là trộm cắp.
Hỏi: Nếu con không lượm thì người khác cũng lượm!
Đáp: Người khác lượm người khác phạm, mình lượm là mình phạm.
Hỏi: Nếu con lượm rồi đem vào chùa cúng có được không?
Đáp: Đâu phải của mình mà đem cúng! Phải đem đến cơ quan chính quyền, hễ ai làm mất sẽ đến xin lại. Chỉ khi nào người chủ muốn cúng dường thì nên, chứ tự mình đoạt ý của người khác đâu được.
Hỏi: Thế nào là Bát Nhã Tâm Kinh? Thế nào là “Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa thời”?
Đáp: Kinh này hiển bày tâm linh nên gọi Tâm Kinh. Bát Nhã là hiển bày sự dụng của tâm linh, thế gian gọi là trí huệ. Trí huệ của bộ não phải qua tác ý mới sử dụng, còn Bát Nhã khỏi cần tác ý, trí huệ của bộ não có hạn chế, Bát Nhã khắp không gian thời gian mà chẳng bị không gian, thời gian, số lượng hạn chế. Bây giờ chúng ta chưa chứng quả, không có tu, do nghiệp nhân được đầu thai thành con người, có trí huệ của bộ não, nếu chúng ta tu đến một mức độ nào thì hiện được sức dụng Bát Nhã, đó không qua trí huệ của bộ não, tức chẳng qua tác ý, gọi là Bát Nhã.
“Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa thời” là hành cái dụng của tâm linh. Bởi chẳng có hạn chế nên gọi là “Thâm”, chữ thâm này chẳng phải đối với cạn mà nói sâu, nếu dịch thành “đi sâu vào Bát Nhã” là sai. Bát Nhã nếu có sâu cạn tức còn số lượng, còn hạn chế. Ma ha Bát Nhã: Ma ha là lớn, nhưng chẳng phải đối với nhỏ mà nói lớn, cũng như Kim Cang Bát Nhã; kim cang là cứng, nhưng chẳng phải đối với mềm mà nói cứng v.v… đều là siêu việt số lượng, chẳng phải có tương đối.
Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật là khi dùng được Bát Nhã rồi tức đến bờ bên kia. Nay chúng ta ở bờ bên đây có khổ, có phiền não, đến bờ bên kia là giải thoát, ấy là nhờ sức dụng của Bát Nhã, tự nhiên khiến ngũ uẩn đều không. Tất cả ngã chấp đều do chấp thật ngũ uẩn là ta; đến lúc đó ngã chấp đã sạch, thức thứ sáu chuyển thành Diệu quan sát trí, sự chiếu soi đã khắp không gian thời gian thì làm sao còn ngũ uẫn! Nên chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Cái Không này là cái không của tâm linh, là hư không vô lượng vô biên, khắp không gian thời gian, chứ chẳng phải không có gì hết. Tất cả kinh điển của Phật đều là hiển bày tâm linh.(Sư phụ đã giảng về cái không trống rỗng, lược qua).
Hỏi: Cư sĩ tại gia có được quyền làm lễ qui y, truyền tam qui ngũ giới cho Phật tử không?
Đáp: Cư sĩ tại gia đâu có giới để truyền? Người truyền giới là những vị đã thọ giới Cụ túc, tức đã đầy đủ giới rồi mới có giới để truyền, cư sĩ chỉ có ngũ giới thì làm sao truyền?
Hỏi: Một số Phật tử nói rằng họ qui y Phật chú đâu phải qui y người truyền giới đó?
Đáp: Qui y Phật nào? Tượng Phật ư? Tượng Phật biết làm lễ qui y không?
Hỏi: Có một ông cư sĩ ở Ngã sáu làm lễ truyền giới cho Phật tử, vì ông nói công có thể truyền giới được.
Đáp: Vốn chẳng có giới thì làm sao truyền! Nói Qui y là qui y Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng, chẳng thể tách rời. Có Phật Bảo, có Pháp Bảo, nếu không có Tăng Bảo thì Phật pháp cũng tiêu diệt nơi thế gian, vì đâu có ai truyền! Truyền là nhờ Tăng bảo, nay cho rằng khỏi cần nhờ Tăng Bảo, thế thì hãy nói với Phật Thích Ca vậy!
Hỏi: Con là Phật tử, nếu cúng dường không đúng chánh pháp có nhân quả không?
Đáp: Nếu theo tà ma ác đạo, như Kinh Lăng Nghiêm nói: “Thầy xuống địa ngục, trò cũng xuống theo!”
Hỏi: Thế nào là tam tạng mười hai phần giáo?
Đáp: Tam tạng gồm Kinh, Luật, Luận: Tất cả kinh điển do Phật thuyết là Kinh tạng; tất cả giới luật do Phật chế là Luật tạng; Tổ sư đời sau muốn sáng tỏ nghĩa kinh, rồi lập ra các luận, gọi là Luận tạng. Nên người thông suốt kinh, luật, luận gọi là Tam tạng pháp sư.
Mười hai phần giáo chẳng phải đem giáo lý chia thành mười hai phần, mà là văn chương diễn tả giáo lý đó gồm mười hai thứ như: Tụng, kệ, dài, ngắn v.v… tức dùng mười hai loại hình thức văn chương diễn tả Phật pháp.
Hỏi: Có một vị thầy bảo Phật tử rằng: “Muốn học thiền mà chưa có phước phải bị ma nhập”, Vậy phải đợi khi nào có phước rồi mới tu thiền được, phải không?
Đáp: thầy đó làm sao biết người ta có phước hay không? Thầy đó dùng sự bói toán hay có thần thông như các vị A la hán quán được tám muôn kiếp trước?
– Dạ, con không biết, mà con nghe người ta nói thầy đó nổi tiếng lắm!
– Phật pháp là y pháp bất y nhơn nay có nhiều người nổi tiếng nhưng chẳng biết Phật pháp chút nào.
Hỏi: Thế nào là Tứ liệu giản của ngài Lâm Tế?
Đáp: Ấy là cơ xảo của ngài, nói “Đoạt pháp chẳng đoạt nhơn, đoạt nhơn chẳng đoạt pháp, nhơn pháp đều đoạt, nhơn pháp đều chẳng đoạt”. Đó là tùy theo căn cơ: Người căn cơ kém hay chấp pháp thì phá chấp cho nhẹ, nên đoạt pháp chẳng đoạt nhơn; người căn cơ cao hơn thì đoạt nhơn chẳng đoạt pháp. Cao hơn nữa là nhơn pháp đều đoạt, đối với người siêu việt tất cả căn cơ thì khỏi cần đoạt gì cả, nhơn và pháp đều chẳng đoạt.
Hỏi: Thế nào là Tứ thiền Bát định?
Đáp: Gồm bốn cấp thiền ở cõi Trời Sắc giới từ Sơ thiền đến Tứ thiền, có thiền thì có định, cộng vói bốn thứ định ở cõi Vô sắc giới, nên gọi Tứ thiền Bát định. Xem Kinh Lăng Nghiêm sẽ giải thích kỹ hơn.
Hỏi: Nhục thân và pháp thân có khác nhau không?
Đáp: Nếu nói về bản thể của tâm linh thì chẳng khác, như Kinh Pháp Bảo Đàn nói “sắc thân với pháp thân chẳng khác”, còn theo tư tưởng chấp thật thì có khác.
Hỏi: Trong Kinh Viên Giác nói đến cách tu Chỉ quán phải tránh bốn bệnh tác, chỉ, nhậm, diệt; lúc đầu con không biết làm sao tránh khỏi, sau nghe Sư phụ giảng hễ tham thiền khởi lên nghi tình thì không rơi vào tâm phân biệt. Vậy có phải chỉ có tham thiền khởi nghi tình là không rơi vào bốn bệnh này?
Đáp: Chẳng phải chỉ có bốn bệnh, tác, chỉ, nhậm, diệt; không lọt vào tứ cú, không lọt vào 62 kiến chấp, không lọt vào bất cứ chỗ nào, tức là nghĩa vô sở trụ, nhưng sự thật thì lúc chưa ngộ, hễ trụ vào tác, chỉ, nhậm, diệt là chướng ngại, còn nếu không trụ thì đó là phương tiện để tu, là thuốc chứ chẳng phải bệnh! Phật pháp gọi là pháp bất định, chẳng phải có sự nhất định.
Hỏi: Nếu tu theo pháp môn khác có rơi vào bốn bệnh kể trên không?
Đáp: Nếu tu đúng theo tông chỉ của pháp môn đó cũng không bị rơi vào. Tổ Sư Thiền có một đặc điểm là chỉ chú trọng chữ nghi; cái nghi là nhân của ngộ, nên bất cứ thiền gì, cuối cùng cũng phải từ nghi đến ngộ. Ví như pháp thiền Chỉ quán, tu đến Thể chơn chỉ là phát nghi; cho đến pháp môn Tịnh Độ, vãng sanh cõi Cực lạc rồi Phật A Di Đà mới dạy cách tham thiền và phát nghi rồi được ngộ.
Phật pháp giải thoát cần sự ngộ, chúng ta học Phật là muốn học pháp giác ngộ, tất cả Phật pháp đều muốn dẫn dắt mình đến con đường giác ngộ, chứ chẳng phải muốn trừ vọng, muốn dẹp bệnh này bệnh kia.
Hỏi: Người đời nói tình yêu, trong đạo nói tình thương, vậy giữa hai danh từ này có khác nhau không?
Đáp: Tình yêu và tình thương đều là tình cảm của người đời, còn pháp xuất thế gian nói “Hễ tình sanh thì trí cách”, bất cứ mống lên tình cảm gì thì trí huệ bị ngăn cách chướng ngại.
Tu sĩ đã xuất gia, đối với tình thương của gia đình cũng không còn; tình thương đã trở thành từ bi, tức chẳng có TA, gọi là vô duyên từ và đồng thể bi, tức đã phá sạch ngã chấp, chẳng còn đối đãi, khác với tình thương của người đời.
Nói một cách rõ hơn là thương tất cả chúng sinh đều bằng nhau. Trong Triệu Luận nói “Đại nhơn bất nhơn”, nhơn là tình thương, đại nhơn đã cùng khắp rồi thành ra không có tình thương, vì đối với chúng sinh nào cũng như nhau, chẳng còn phân biệt nữa, còn người thế gian thì khác, đối với anh em cha mẹ thì có nhiều tình thương, còn đối với người khác thì không.
Nói đến thương yêu thì Dục giới mới có, Sắc giới và Vô sắc giới đã không có rồi.
Hỏi: Trường hợp có một thiếu nữ đến ôm một vị Tỳ kheo và nói: “Nếu thầy không yêu em thì em sẽ chết và chết ngay tức khắc!” Xin hỏi Sư phụ nên giải quyết như thế nào?
Đáp: Mặc cho cô ấy chết.
Hỏi: Vậy thì không có lòng từ bi sao?
Đáp: Tôi đã nói từ bi khác hơn bác ái; từ bi đã không có ta rồi mới thành từ bi; từ bi chẳng phải chỉ thương một người, tất cả chúng sinh đều bằng nhau.
Chớ nói chi xa, hãy ra chợ đến các hàng bán cá, những con cá cũng sắp chết, chẳng những chết, người ta còn đem về làm thịt kìa! Nó với cô thiếu nữ đâu có khác, tại sao không đi cứu!
Bổn phận của người tu sĩ thọ cúng dường của mười phương, nếu bỏ bổn phận tu hành mà đi làm việc từ thiện; người ta thiếu áo cho áo mặc, đói cho ăn, bệnh cho thuốc … cũng còn thiện nhân chiêu ác quả, trong Giới luật ghi rõ mười sáu điều. Tại sao” Vì chữ Phật là giác ngộ, phải tự giác giác tha, nay mình là Tu sĩ Phật Giáo, nếu bỏ bổn phận tu thì làm sao tự giác rồi giác tha? Những việc làm từ thiện đó được mọi người ca ngợi, đem lại nhiều tiếng tăm, là tăng thêm ngã chấp, còn tu hành là phá ngã chấp. Những việc làm trên so với việc của cô thiếu nữ đó ra sao. Nếu bỏ hết những sự cúng dường của mười phương trước đó mà chiều theo cô thiếu nữ, ấy là phá giới, là tội Ba la di, đọa địa ngục chín triệu năm xong, sau khi ra khỏi, phải đầu thai thành trâu ngựa để trả nợ của thí chủ!
Hỏi: Từ khi xuất gia đến, có hai điều khiến con cảm thấy buồn: Một là số huynh đệ sau một thời gian tu vì không giữ được giới dâm phải ra đời; hai là có những vị tu đến bậc Thượng Tọa, Đại đức, trong thời gian tu rất tinh tấn, sau đó cũng ra đời vi vấn đề quan hệ nam nữ …
Đáp: giới luật của Đức Phật chế ra rất tỉ mỉ: Tu sĩ mới xuất gia phải thọ mười giới của Sa di, Sa di ni, nhưng mười giới này, tu sĩ thời nay không có giữ. Như thầy đã thọ giới Sa di rồi, thầy có giữ không?
– Bạch Sư phụ, con có thọ, nhưng …
– Không có giữ, phải không? Trong mười giới của Sa di, năm giới trước thì cư sĩ khi thọ ngũ giới đã phải giữ. Giới thư ba là dâm giới, cư sĩ thì cấm tà dâm, không cấm chánh dâm, còn tu sĩ phải cấm cả hai.
Tại sao Đức Phật phải chế ra năm giới kế tiếp? Vì dụ giới không dùng các loại hương thơm, không ngồi giường cao rộng, không đi xem hát bóng v.v… Năm giới kế tiếp này nhiều người tưởng là không cần thiết, mà chẳng biết đó là dây kẽm gai để rào chắn lại, ngăn chận không cho vi phạm giới dâm. Nhưng thời nay không ai giữ, xem như không có gì, Sa di thọ giới cứ thọ, mà giữ thì không giữ.
Theo giới luật, ngay sau khi xuất gia, thời gian chậm nhất không quá một ngày, Sa di phải thọ mười giới, nhưng có nhiều người không thọ mười giới, kể cả ngũ giới cũng chưa! Có người thọ rồi lại không giữ, vì không giữ nên năm lớp dây kẽm gai của Đức Phật chế ra coi như chẳng tác dụng, nên mới dễ vi phạm giới dâm.
Trong các vật dụng hàng ngày như kem đánh răng cũng có mùi thơm, xà bông cũng có dầu thơm … từ khi xuất gia đến nay, tôi không bao giờ dùng những loại kem có đánh răng có mùi thơm và xà bông thơm.
Hỏi: Cũng có nhiều trường hợp người nữ dùng thủ đoạn như đem những chất dơ bẩn pha lẫn trong thức ăn để mê hoặc người nam, như vậy làm sao cứu vãn?
Đáp: Tà thường chẳng thắng nổi chánh; do trong cái chánh đã có tà rồi thì tà mới nhập được. Như trường hợp ngài A Nan bị Ma Đăng Già mê hoặc nhiếp vào nhà dâm trong Kinh Lăng Nghiêm.
Tại sao Ma Đăng Già có thể dùng tà chú nhiếp được ngài A Nan? Vì lúc đó trong lòng A Nan đang nghĩ đến vấn đề dùng pháp bình đẳng để khất thực, cho rằng Tu Bồ Đề và Ma Ha Ca Diếp, người thì chuyên khất thực nhà giàu, người chuyên khất thực nhà nghèo là không bình đẳng. Do đó muốn hành theo pháp bình đẳng của Phật, không phân chia giàu nghèo, hầu tránh cho Phật pháp không bị người đời phỉ báng.
Nghĩ như thế là chuyện tốt, nhưng đang lúc nghĩ thì bị Ma Đăng Già dùng tà chú nhiếp vào nhà dâm. Tại sao? Như ngài Lục Tổ nói: “Vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà”, do hữu niệm nên liền bị tà nhiếp. Suy nghĩ việc chính đáng còn như thế, huống là những suy nghĩ bậy bạ kia!
Hỏi: Thuở xưa ngài A Nan bị nạn Ma Đăng Già được nhờ thần chú của Phật để thoát nạn, còn hàng chư Tăng bây giờ nếu bị nạn thì sao?
Đáp: Câu chú đâu có sức lực? Sức dụng ở tại nơi tâm người chú, nếu câu chú có sức lực thì ai niệm cũng có công hiệu sao!
Vấn đề mà thầy đưa ra về tình thương nam nữ đó, Đức Phật sở dĩ chế ra giới luật là gìn giữ nghiêm ngặt cẩn thận cho hàng tu sĩ, như mười giới kể trên, đều là hàng rào ngăn chặn vấn đề phạm giới. Lại nữa, giữa chùa Tăng và chùa Ni, không cho cách xa lắm nhưng cũng không cho ở gần, khoảng cách chừng nửa cây số, để mỗi nửa tháng Tỳ kheo ni phải mời Tỳ kheo tăng đếng giảng dạy đúng theo pháp Bát kỉnh.
Ngoài ra, trong giới luật qui định:
– Tỳ kheo được xuất gia bảy lần, Tỳ kheo ni chỉ được một lần.
– Về tội Ba la di: Tỳ kheo chỉ có bốn tội, trong khi Tỳ kheo ni đến tám tội.
– Nam từ Sa di lên thẳng Tỳ kheo, còn Sa di ni phải qua Thức xoa hai năm rồi mới lên Tỳ kheo ni.
Cho nên, Phật Thích Ca đã cho phòng ngừa trước, chỉ vì người đời sau không chịu hành theo giới luật, nay người thọ giới chẳng tự trách mình không giữ giới, lại trách do người khác cám dỗ sao được! Như thầy nói về trường hợp cô thiếu nữ kia, cô ấy là người ngoài đời, chẳng biết giới luật, còn mình là tu sĩ, đã thọ giới thì phải giữ giới, đâu thể nói “Nếu để cô đó chết là không từ bi!”
Vấn đề này trong xã hội chúng ta hiện nay ngày càng nghiêm trọng. Tại sao mấy cô gái không tìm bạn trai ngoài đời mà vào chùa tìm những vị tu sĩ? Vi khi tiếp cận tu sĩ theo cách cúng dường của Phật tử là điều kiện dễ dàng thân cận và công khai, lại chẳng mất lòng tự ái như theo đuổi một người con trai ở ngoài đời. Nhưng vì Đức Phật đã biết trước, đã phòng ngừa trước, rồi, nếu ai đều giữ giới của mình thì đâu có việc gì xảy ra! Nói đi nói lại, phải tự trách mình, chứ đừng trách người khác.
Chẳng những tu sĩ, ma tất cả mọi người đều phải giữ bổn phận của mình; cha mẹ có bổn phận của cha mẹ, con cái, vợ chồng v.v… mỗi mỗi đều phải có bổn phận. Người xuất gia thì Sa di có bổn phận của Sa di, Sa di ni có bổn phận của Sa di ni … Nếu bỏ bổn phận của mình đi làm việc khác, mặc dầu cao quí hơn, được người ta tán thán hơn, vẫn là thiện nhân chiêu ác quả, trong giới luật Đức Phật đã qui định rất rõ.
Nay tôi khuyên mọi người phải hết lòng tự mình lo tu, đã là vai trò nào thì làm đúng bổn phận vai trò đó. Mình không tự lo cho mình, lỗi của chính mình không kiểm soát, cứ nhìn thấy lỗi của người khác, như Lục Tổ nói: “Hễ thấy lỗi của người, trở thành lỗi của mình”. Khi xưa lúc ngài Lai Quả mới đến Thiền đường chùa Cao Mân cũng vậy, cứ nhìn thấy lỗi của người này người kia, sau đó tỉnh giác rằng: “Mình đến đây là muốn tu giải thoát, đâu phải đến để biết lỗi của người khác!” Cho nên tu bốn năm là kiến tánh.
Theo giới luật, Thầy bổn sư có trách nhiệm dạy đệ tử xuất gia, và Tỳ kheo phải ở bên bổn sư mười năm, Tỳ kheo ni là mười hai năm mới được rời bổn sư. Nay nhiều người làm bổn sư mà chẳng dạy đệ tử, lại còn bênh vực đệ tử mình nữa!
Bây giờ chúng ta tham thiền, chỉ cần giữ được nghi tình của mình, ngoài ra không biết tới tất cả, đến chừng nào ngộ rồi tự biết.
Hỏi: Thế nào là công phu ít phí sức và thế nào là phí sức?
Đáp: Phí sức là cố gắngtập trung tinh thần, còn ít phí sức là kéo dài nghi tình hỏi cho miên mật thôi, khỏi cần cố gắng, khỏi cần tập trung tinh thần.
Hỏi: Thế nào là Tứ hoằng thệ nguyện? Ví nhu nói “chúng sinh vô biên thệ nguyện độ” là chúng sinh nào? Làm sao độ? Làm thế nào đoạn dứt phiền não vô tận?
Đáp: Tôi thường nói “Tất cả do tâm tạo”, chúng sinh cũng do tâm tạo, chúng sinh chính là tâm của mình. Nói “độ” là độ chúng sinh của tâm mình, như tâm tham, tâm sân, tâm si … đều là chúng sinh. Hễ nói ra thì có số lượng, dù vô lượng vô biên, nhưng cũng bao gồm trong tâm.
Chữ Phật là giác ngộ, muốn giác tha thì trước tiên phải tự ngộ, gọi là chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận cũng là do tâm tạo, pháp môn vô lượng thệ nguyện học cũng là tâm. Nói đến vô lượng, như nay học pháp môn Tổ Sư Thiền đã bao gồm tất cả rồi, chẳng cần học theo từng pháp môn, vì nguồn gốc của nó là tâm. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành cũng là tâm, khi kiến tánh thành Phật thì bàn tâm tự hiện, mặc dầu nói đủ thứ danh từ, nào là Vô thỉ vô sanh, Bồ đề, Niết bàn, giải thoát v.v… nhưng cũng là tâm, ý vốn chẳng khác, nên nói “Tự tánh bất nhị”.
Hỏi: trong một giới đàn, có một lần sau khi thọ giới Sa di xong, các vị Sa di xin thọ luôn giới Bồ tát thì Ban lãnh đạo nói: “Vị nào thọ giới Sa di xong liền thọ giới Bồ tát thì sau này không được thọ giới Tỳ kheo”, vậy có đúng không?
Đáp: Không phải vậy, tại những vị ấy chưa thông suốt giới luật. Trong giới luật có tiệm giới và đốn giới: Tiệm là phải tiến lên theo từng lớp, như giới Thanh văn, phải thọ ngũ giới rồi mới được thọ mười giới, rồi mới đến 250 giới của Tỳ kheo, ấy là cho phái nam; còn phái nữ thọ mười giới rồi còn phải thọ Thức xoa xong mới được thọ giới Tỳ kheo ni, gọi là tiệm thứ.
Còn giới Bồ tát và Bát quan trai gọi là đốn giới, tức khỏi cần cấp bậc, chưa qui y Tam Bảo cũng thọ giới Bồ tát được, vì trong lúc thọ giới có làm lễ qui y, cư sĩ thọ ngũ giới xong là có thể thọ giới Bồ tát tại gia, thọ giới Bát quan trai cũng vậy. Người chưa thọ ngũ giới vẫn được thọ giới Bát quan trai, chứ chẳng cần phải theo thứ lớp.
Hỏi: Cư sĩ có thể thọ giới Bồ tát xuất gia không?
Đáp: Cư sĩ thọ giới Bồ tát xuất gia phải hành theo hạnh xuất gia, ví như giới dâm. Cư sĩ chỉ cấm tà dâm, còn xuất gia là chánh dâm cũng cấm, nếu chịu thực hành giữ giới xuất gia cứ thọ. Giới Bồ tát là không hạn chế, còn các giới khác phải theo thứ lớp.
Hỏi: Trong Lâm Tế Ngữ Lục có câu “Thân y ghĩa lập, độ y thể luận, do đó pháp tánh thân và pháp tánh độ đều là quang ảnh của tự tâm”. Vậy thế nào là thân y nghĩa lập?
Đáp: Nói đến “nghĩa”, trong pháp tứ y có “Y nghĩa bất y ngữ”; chẳng y theo lời nói mà y theo nghĩa, nghĩa đúng thì theo, hễ lời nói đúng nhưng chẳng đúng với nghĩa cũng không theo.
Nói “Nghĩa” là nghĩa gì? Nghĩa cao nhất là thắng nghĩa, thắng nghĩa là muốn đạt đến cuối cùng, kiến tánh thành Phật, chứ chẳng phải nghĩa của người đời, mà là siêu việt cái nghĩa của người đời.
Nếu nói theo người đời thì thấy được phải có tướng, ví như đây là tướng của cái tách, tướng của cái bình … cái nghĩa Không của cái tách là nó đựng được sữa, cà phê, nhưng chẳng có khả năng giữ ấm, còn cái nghĩa Không của cái bình thì được giữ ấm, nó khác hơn nghĩa Không của cái tách, khác hơn nghĩa Không của căn nhà … Tất cả đều có cái nghĩa Không khác nhau, nhưng có chung một nguồn gốc là cái nghĩa Không sẵn sàng ấy lại chẳng có nghĩa lý gì!
Đức Phật vì muốn thuyết pháp độ chúng sinh cho dễ hiểu, nên phân biệt tướng và tánh: Tướng với tánh hơi khác; tướng là hình thức, tánh là cái dụng. Lại nữa, đem cái tướng chia thành ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả để mọi người dễ tu: Phá được ngã tướng rồi đến nhơn tướng, phá hết nhơn tướng tiến đến chúng sinh tướng, ba thứ ngã, nhơn, chúng sinh tướng đều nằm trong thời gian, chấp vào thời gian là còn thọ giả tướng, ấy là tứ tướng của phàm phu.
Tứ tướng của bậc Thánh: Phá được ngã tướng là năng chứng sở chứng và có thân ngũ uẩn để chứng đều chẳng thật, tiến thêm một bước là có năng ngộ sở ngộ, ấy là nhơn tướng. Liễu tri năng chứng sở chứng, năng ngộ sở ngộ đều không đúng, nhưng có cái tâm liễu tri, gọi là chúng sinh tướng, rồi tiến thêm một bước nữa là chứng quả Niết bàn. Phá được ba tướng ngã, nhơn, chúng sinh, nhưng chấp tướng tịch diệt Niết bàn, là thọ giả tướng. Tiểu thừa chấp đó là thật, trụ nơi Niết bàn, tức mạng căn chưa dứt, Thiền Tông thì phải cắt đứt mạng căn đó. Chứng đến cuối cùng chẳng phân biệt tánh tướng nữa, lại đặt cho tên gọi là “Thật tướng”, cho nên nghĩa cùng tột là Thật tướng.
Do bốn thứ tướng kia đều chẳng thật, mà thật tướng vô tướng, chẳng có nghĩa lại lập ra đủ thứ nghĩa, nên nói “Thân y nghĩa lập”. Nếu chẳng có nghĩa thì chẳng thể lập, cũng như tất cả nghĩa Không của cái bình, cái tách, căn nhà v.v… đều là từ nghĩa Không của hư không chẳng có nghĩa mới đặt ra được, tức hư không là thật tướng. Do phàm phu ham chấp tướng, chẳng có tướng thì không chịu, nên hễ nghe nói “cắt đứt mạng căn” là hoảng sợ.
Hỏi: Vậy thế nào là “độ y thể luận”?
Đáp: Thể là bản thể. Nay chỉ biết tâm linh mình gọi là Như Lai, Bồ đề, Niết bàn, Phật tánh … nhưng đối với bản thể thì không biết. Bản thể là hư không, là trống rỗng, là tâm linh của mình, tất cả pháp đều y thể này mà lập, tức hiển bày sự dụng. Như Trung Quán Luận nói: “Do có nghĩa Không nên thành tựu tất cả pháp”. Ví như hiện nay thầy hỏi pháp tôi phải nhờ cái Không sẵn sàng này, nếu không thì thầy cũng chẳng thể hỏi và tôi cũng chẳng thể trả lời.
Hỏi: Trong chùa, Ban chức sự bảo đại chúng ta làm ruộng, lỡ cuốc đất phạm phải giới sát sanh thì chúng con phải chịu nhân quả hay người điều hành phải chịu?
Đáp: Chúng ở trong Tòng lâm, gọi là phổ thỉnh thì người nào cũng phải đi làm, chẳng phải trách nhiệm của riêng ai, vì mọi người đều làm chủ Tòng lâm, chứ không phải chỉ có Trụ trì mới làm chủ: ở đậu một ngày làm chủ một ngày, ở mười ngày làm chủ mười ngày, ở một năm năm làm chủ một năm, khi nào đi thì thôi. Cho nên, quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, chẳng phải như ở trong gia đình, người gia chủ phải chịu trách nhiệm.
Hỏi: Khi làm ruộng mà phải xịt thuốc trừ sâu, vậy nhân quả thế nào?
Đáp: Cái gì cũng có nhân quả, người đã thọ giới Bồ tát phải chọn đất và nước trong sạch, chẳng sâu bọ mới trồng trọt. Hễ tu đến chứng được sơ quả Tu đà hoàn thì sâu bọ tự lìa, nếu không thì khó tránh khỏi vấn đề sát sanh. Muốn giải quyết triệt để phải kiến tánh mới được, nay chưa kiến tánh, dùng cái lý mình hiểu biết chẳng thể giải quyết vấn đề. Tại sao? Cũng như con vi trùng bệnh, khi chúng ta bệnh là do vi trùng xâm nhập cơ thể, đi khám bệnh, Bác sĩ, phải dùng thuốc diệt trùng, như tôi thường khuyên người ta đừng sát sanh, nhưng đâu thể khuyên người ta không đi khám bệnh! Vi trùng bệnh cũng là chúng sinh vậy! Cho nên, chỉ là tùy duyên mà làm thôi.
Tất cả đều là việc trong chiêm bao, bất kể nhắm mắt chiêm bao hay mở mắt chiêm bao. Muốn giải quyết triệt để là phải rời khỏi chiêm bao, trong chiêm bao thức tỉnh mới lìa khỏi nhân quả, nếu không vẫn phải chịu nhân quả trong chiêm bao.
Ăn cục thịt trả cục thịt, ấy là do mình có tác ý tạo, hoặc giết hại theo sự giận tức như khi bị con muỗi chích, bị con kiến bu ăn thực phẩm, bị mối mọt làm hư hoại đồ vật … thì nhân quả nặng hơn, còn những việc làm không tác ý tạo, không khởi tâm giết hại thì nhân quả nhẹ, như khi bệnh rồi phải đi thầy thuốc chữa bệnh cho mau khỏi. Mặc dầu có ý tạo tác như vậy, nhưng có thể tránh được, ngoài ra còn có những trường hợp mình chẳng tránh, cho nên phải giải quyết nguồn gốc sinh tử.
Như pháp môn tham Tổ Sư Thiền là muốn cho mọi người đạt đến giải quyết vấn đề nguồn gốc sinh tử.
Hỏi: Con làm nghề bán cơm rượu, có một số Phật tử bảo con ngưng bán, chẳng thà họ gởi gạo, rau cải cho con sống qua ngày, nếu cứ bán tiếp tục sau khi chết sẽ có tội, phải vậy không? Kính xin Sư phụ từ bi khai thị?
Tôi đã nói ăn cơm rượu không phạm giới cấm uống rượu, còn bán cứ việc bán, vì người ta không hiểu nên nói vậy.
Hỏi: Từ khi xuất gia, con làm việc thì nhiều, tu thì ít, đến khi con bị bệnh, xin thầy con cho đi tìm thiền đường chuyên tu và trị bệnh, thầy con không cho, bảo con ở lại vừa làm vừa tu, nhưng con chẳng thể vừa làm vừa tu được, nay con định đi tìm một nơi để chuyên tu, nếu không thì mang nợ thí chủ, vậy có phản thầy không?
Đáp: Thật ra trong cuộc sống hằng ngày đều là tu, tôi đã nói: Ăn cơm cứ ăn cơm là tu, mặc áo cứ mặc áo, là tu … tất cả đều là tu, chứ chẳng phải đi đến Thiền đường hay một chỗ nào mới là tu. Pháp môn Tổ Sư Thiền là tối thượng thừa, chẳng bị không gian, thời gian, số lượng hạn chế, nếu giữ được nghi tình thì tâm không biết, chỗ nào cũng như chỗ nấy, chỉ tại tâm mình thôi.
Hỏi: Vì chúng con mới tập tu, nếu mệt quá thì khi lên chánh điện chỉ ngồi ngủ gục, thôi chớ tu không nổi!
Đáp: Tôi đã giảng đứa bé ba tuổi chẳng biết gì cả cũng tham thiền được, huống chi mình là người lớn.
Hỏi: Người lớn vừa làm vừa tu không được, làm mệt quá rớt hết!
Đáp: Thế thì cứ ngồi đó ngó lên trời đợi rớt xuống ăn vậy!
Hỏi: Con là người xuất gia, có nhận một đứa bé nuôi từ thuở nhỏ, con nuôi bé bằng tiền của tín thí, lớn lên cho đi ăn học mà nó không có tu, chỉ lo việc ngoài đời. Vậy nuôi như thế có nhân quả không?
Đáp: Có nhân quả. Tệ hại này bây giờ nhiều lắm, nhiều Ni cô ham làm mẹ, đó là đặc tính của người nữ, như con gà ấp trứng. Đã xuất gia là không có nhà, lại nuôi thêm đứa bé, nhiều người nuôi một đứa chưa đủ, nuôi cả ba bốn đứa. Mục đích nuôi để làm gì? Chỉ tăng cường ngã chấp! Đến chừng đứa bé lớn lên, đâu biết tu, cũng đâu có tu? Sự hao tổn của đàn na tín thí, là nợ phải trả, người nuôi phải chịu nhân quả chứ đứa bé đâu biết gì!
Hỏi: Lúc con hành thiền không có tham thoại đầu, mà chỉ là niệm Phật và cũng không nhất định ngồi theo kiểu kiết già, vậy có được không?
Đáp: Niệm Phật phải theo đúng tông chỉ của Tịnh độ, Tông chỉ của Tịnh độ là gì?
Hỏi: Khi con ngồi, chỉ biết niệm Phật và trì chú, tâm con chẳng buông lung cũng chẳng nghĩ ngợi gì cả …
Đáp: Đường lối thực hành còn không biết, làm sao tu! Muốn thực hành pháp nào cũng được, nhưng phải biết rõ cách thực hành. Nếu không biết, như người mù đi đường, bị té vào hố sâu cũng chẳng hay, té xuống hầm cầu cũng không biết. Niệm Phật đâu cần ngồi!
Hỏi: Nếu con không ngồi thì chẳng thể nhất tâm được.
Đáp: Đã nói niệm Phật chẳng cần ngồi, tham thiền cũng chẳng cần ngồi, đi, đứng, nằm, ngồi đâu cần nhất định phải ngồi? Tông chỉ thực hành chẳng phải do ngồi, phải biết rõ con đường đó rồi mới đi được.
Hỏi: Thế nào là “Suy nghĩ cái chẳng thể suy nghĩ được, chẳng thể suy nghĩ thì suy nghĩ làm sao?” Câu này thuộc Tổ Sư Thiền hay mặc chiếu?
Đáp: Ấy là dùng lời nói để hình dung, do bộ óc chúng ta từ lâu đời ham suy nghĩ, nên chiều theo sự suy nghĩ của bộ óc, suy nghĩ đến chỗ nguồn gốc, chỗ phát lên cái suy nghĩ đó. Chỗ này ngài Ngưỡng Sơn ở tông Qui Ngưỡng cũng có dạy:
Có một học tăng tham thiền nhưng ham suy nghĩ, ngài Ngưỡng Sơn hỏi:
– Sư là người gì?
Tăng trả lời nơi quê hương đang ở.
– Sư có nhớ nhà không?
– Dạ có.
– Vậy sư nhớ tất cả nhà cửa đường phố xe cộ v.v… nơi quê hương không?
– Dạ nhớ.
– Trong cái tâm suy nghĩ của sư có cái đó không?
– Dạ không có.
Vì đó chỉ là suy nghĩ của tâm, còn năng suy nghĩ thì không có. Nay ông hãy trở lại suy nghĩ cái tâm năng suy nghĩ đó, tìm xem có gì không? Tìm mãi không thấy gì mới chấm dứt được sự suy nghĩ và ngộ.
Một vị trình công phu: Kính bạch Sư phụ, con có một việc vô cùng phấn khích, biết ơn Sư phụ đã tổ chức đạo tràng cho chúng con được dịp tu học … Con xin trình bày:
Con bắt đầu biết đến pháp môn này cách đây mười năm. Trong quá trình thực hành, công phu của con có lúc đắc lực, có lúc không. Cho đến dịp này dự thất, khi con trình lên câu tham, được Sư phụ sửa lại câu “Trước khi mẹ sanh, mặt mũi con ra sao?” Thế là con đem hết mình tham, luôn cả lúc về nhà.
Đến buổi sáng thất thứ năm, khoảng chín giờ, lúc đó, con chẳng hay biết cũng chẳng khởi tưởng gì cả, bỗng dưng nghe có tiếng trả lời “Thật tướng mà, Thật tướng vô tướng mà! Mặt mũi hình tướng gì!” và con cảm thấy một sự nhẹ nhàng như được cởi trói cho cả thân tâm. Vần không tin đó là một phần giác hay cái gì đó, nên con lại tiếp tục tham, nhưng con tham không được nữa, cứ có sự trả lời như thế. Do đó con tự ý đổi qua câu tham “Không phải tâm, không phải Phật, không phải vật, là cái gì?” Cũng lại được trả lời: “Ấy là vô tướng, vô tâm mà!” Con thử bẻ mạnh ngón tay mình để có sự tỉnh giấc và kích thích tận xương cốt mà vẫn cảm thấy nhẹ nhàng …
Con cũng có sự mừng mừng vui vui. Tiếp theo con lại nhớ đến một câu “Ba thuở tìm tâm tâm chẳng thấy, dốc lòng kiếm vọng vọng hoàn không”, con tự tra xét lại cũng chẳng thấy có vọng tưởng nào, trong tâm hoàn toàn là một sự vắng lặng rỗng rang.
Khi trên đường về nhà, thấy cảnh vật bên ngoài cũng có phần thay đổi, nhìn lên bầu trời thấy xa khơi mênh mông và có sự rung cảm nào đó …
Đến ngày thất thứ sáu, đi vào thiền thất cũng với câu tham cũ, con lại chợt nhận ra “Theo dòng nhận được tánh, chẳng buồn cũng chẳng vui”. Đến buổi chiều thì con nhận thấy không có lực tham nữa, thế là con lại có một câu: “Khi chưa biết gì, còn đang lo tham thì mặt mũi như là ma mẹ, biết rồi mặt mũi cũng như lo ma mẹ”. Con cảm thấy con đường tu tiến hãy còn xa lắm, chưa được gì đâu, đừng vội mừng.
Với nội dung con trình bày kể trên, xin Sư phụ tra xét tâm con và chỉ dạy cho con.
Đáp: tâm của ông là bị sở tri chướng; do trước kia hiểu biết nhiều quá, chứa đầy trong bụng. Theo ngài Lai Quả nói “Chẳng những phải đổ ra hết, hễ còn cái bụng vẫn chưa được, vì còn có dịp chứa vào, phải quăng luôn cả cái bụng, không cho chứa nữa mới là triệt để”.
Bây giờ tôi hỏi ông: Người biết Thật tướng đó là ai?
– Dạ chính là Thật tướng vô tướng.
Sư phụ: Đã vô tướng thì ai biết vô tướng đó?
– Con thấy như là chính cái đó nó biết chứ chẳng phải con biết.
Sư phụ: Đã nói là vô tướng thì lấy cái gì để biết?
– Dạ, con chịu thua, không biết.
Sư phụ: Cái không biết đó, bây giờ tham đi, nhìn chỗ đó đi, cứ hỏi và nhìn ngay chỗ đó xem, xem là gì, tại sao có cái biết đó?
– Người biết Thật tướng vô tướng đó là ai?

Quý vị có thể để lại nhận xét, ý kiến hoặc lời nhắn tại ô này. Thanh Tịnh Lưu Ly xin thành kính tri ân và ghi nhận mọi đóng góp ý kiến từ quý vị

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s